Ngày 19/3, tại Hà Nội, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam tổ chức buổi làm việc, trao đổi về việc đề xuất nội dung sửa đổi các quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với các đơn vị chuyên ngành trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tổ chức, cơ quan có Luật chuyên ngành liên quan.
Tham dự buổi làm việc có Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Thanh Tùng; các đại biểu đại diện các đơn vị chuyên ngành trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tổ chức, cơ quan có Luật chuyên ngành liên quan cùng Tổ xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Quang cảnh buổi làm việcPhát biểu tại buổi làm việc, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Thanh Tùng rất mong nhận được các ý kiến góp ý của các đại biểu, tập trung vào những nội dung kỹ thuật được đề xuất, xem xét sự chồng chéo với các pháp luật chuyên ngành hiện hành; các quy định mang tính nguyên tắc, bao quát, thống nhất trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và các quy định có tính đặc thù riêng trên biển, còn thiếu, phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Qua đó, Tổ xây dựng sẽ có nhiều cơ sở để hoàn thiện khung pháp lý đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Thanh Tùng phát biểu tại buổi làm việc, trao đổi về đề xuất nội dung sửa đổi các quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảoTại buổi làm việc, các đại biểu đại diện cho các đơn vị chuyên ngành thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cơ bản thống nhất với các nội dung mà đơn vị soạn thảo đề xuất sẽ được bổ sung, sửa đổi trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Tuy nhiên, đại diện các đơn vị liên quan cũng có nhiều ý kiến góp ý tập trung vào từng lĩnh vực chuyên ngành.
Đại diện Cục Môi trường nhấn mạnh một số góp ý như: tập trung vào việc thống nhất thuật ngữ và hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến quản lý tài nguyên biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đề xuất thay thế khái niệm “dự báo” bằng “kết quả đánh giá tác động” để đảm bảo tính kỹ thuật và phù hợp với các thông tư hướng dẫn hiện hành. Một nội dung quan trọng khác là việc lồng ghép hoạt động ứng phó vào chiến lược, quy hoạch khai thác biển nhằm tối ưu hóa nguồn lực triển khai. Ngoài ra, đại diện Cục Môi trường cũng khuyến nghị sử dụng thuật ngữ “biến đổi khí hậu” một cách bao quát, thay vì liệt kê rời rạc các hiện tượng như nước biển dâng.
Ngoài ra còn có các ý kiến góp ý, trao đổi của đại diện Cục Môi trường, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Cục Khí tượng Thủy văn, Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Cục Biến đổi khí hậu…
Trên cơ sở các ý kiến góp ý, tại buổi làm việc, Trưởng phòng Phòng Chính sách - Pháp chế Phạm Thị Gấm làm rõ hơn các nội dung thay đổi, bổ sung về một số lĩnh vực môi trường, đa dạng sinh học…
Bà Phạm Thị Gấm cho biết, hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định trong luật chuyên ngành về biển để điều chỉnh các hoạt động thu thập nguồn gen biển, chia sẻ lợi ích, đánh giá tác động môi trường và hợp tác quốc tế tại các khu vực này. Việc bổ sung một mục riêng trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm tạo khuôn khổ pháp lý nền tảng để thực hiện nghĩa vụ của Việt Nam theo Hiệp định BBNJ (Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài phạm vi tài phán quốc gia), khắc phục khoảng trống pháp lý, đồng thời mở ra cơ sở pháp lý cho việc tham gia, hợp tác và bảo vệ lợi ích quốc gia trong quản trị đại dương toàn cầu.
Đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ đất liền, các quy định hiện hành còn mang tính nguyên tắc, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù môi trường biển và mối liên hệ chặt chẽ giữa lưu vực sông - vùng ven biển - không gian biển. Trong bối cảnh áp lực xả thải từ công nghiệp, đô thị, nông nghiệp và du lịch ngày càng gia tăng, suy thoái môi trường biển ven bờ, phú dưỡng, suy giảm đa dạng sinh học và suy giảm nguồn lợi thủy sản đang diễn ra rõ nét, việc sửa đổi Điều 46 là cần thiết, nhằm thiết lập cơ sở pháp lý cụ thể hơn để kiểm soát nguồn ô nhiễm từ đất liền theo tiếp cận quản lý tổng hợp, gắn với quy hoạch không gian biển, bảo vệ hệ sinh thái biển nhạy cảm và bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp.
Đối với rác thải biển, đặc biệt là rác thải nhựa, đang trở thành một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất, tác động trực tiếp đến hệ sinh thái biển, nguồn lợi thủy sản, du lịch biển và sức khỏe cộng đồng. Trong khi đó, các quy định hiện hành về chất thải chủ yếu được thiết kế cho môi trường đất liền, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù phát sinh, lan truyền và khó kiểm soát của rác thải biển. Việc bổ sung một mục riêng về kiểm soát rác thải biển nhằm hình thành khuôn khổ pháp lý chuyên ngành để kiểm soát toàn bộ vòng đời rác thải biển, từ phòng ngừa, thu gom, xử lý đến giám sát, qua đó nâng cao năng lực quản lý, thực hiện cam kết quốc tế và bảo vệ lâu dài môi trường biển.
Sinh vật ngoại lai xâm hại được vận chuyển qua nước dằn tàu là một trong những mối đe dọa lớn đối với hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản. Việt Nam đã là thành viên Công ước quốc tế về kiểm soát và quản lý nước dằn tàu và trầm tích tàu (BWM). Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định đầy đủ, trực tiếp và thống nhất trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo để thực hiện Công ước. Việc bổ sung một điều riêng về kiểm soát và quản lý ô nhiễm biển do sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu nhằm thiết lập cơ sở pháp lý ở cấp luật để tổ chức kiểm soát, giám sát, phòng ngừa từ nguồn, phân định rõ trách nhiệm của chủ tàu, cơ quan quản lý và các tổ chức có liên quan, qua đó bảo vệ hệ sinh thái biển và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam.
Ô nhiễm dầu trên biển là rủi ro môi trường có quy mô lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng và chi phí khắc phục rất cao. Việt Nam đã tham gia Công ước CLC 1992 và Công ước Bunker 2001, trong đó thiết lập chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt, nghĩa vụ bảo đảm tài chính và cơ chế bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu. Tuy nhiên, các quy định hiện hành trong pháp luật quốc gia còn phân tán, chưa hình thành một chế định chuyên ngành thống nhất về bồi thường ô nhiễm dầu trên biển. Việc bổ sung một mục riêng trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằm nội luật hóa đầy đủ các nguyên tắc cốt lõi của các công ước, tạo cơ sở pháp lý trực tiếp cho việc yêu cầu bồi thường, huy động bảo đảm tài chính, chi trả chi phí ứng phó và phục hồi môi trường, qua đó nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó và bảo đảm công bằng lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng.
Thay mặt cho Tổ xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), bà Phạm Thị Gấm cam kết sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến góp ý, để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) bảo đảm chất lượng, khả thi và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.