Sign In

Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

09:34 18/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Những chia sẻ tâm huyết của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi với khát vọng Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển mạnh.

Tư duy mới

Với điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý đặc biệt, Việt Nam được biết đến là một quốc gia gắn liền với biển đảo. Từ xa xưa người Việt Nam ta đã biết khai thác, sử dụng biển, đảo trong suốt sự nghiệp hàng nghìn năm xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong quá trình đó, biển đảo và kinh tế biển luôn đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt từ giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế đến nay luôn nhận được sự quan tâm, đầu tư và định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước ta. Năm 2007 có Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Năm 2018 có Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;… Có thể nói, những chủ trương, quyết sách như vậy đã tạo nên một nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế biển nhanh, bền vững, và đóng góp bước đầu vào quá trình phấn đầu sớm đưa nước ta trở thành một “Quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển”.

Những chia sẻ tâm huyết của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi với khát vọng Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển mạnh. Ảnh: Khương Trung.

Những chia sẻ tâm huyết của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi với khát vọng Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển mạnh. Ảnh: Khương Trung.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, đánh giá một cách thẳng thắn có thể thấy rằng kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Có lẽ vì vậy mà đầu tháng 6 năm nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi làm việc với các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW nói trên, bên cạnh khẳng định, việc Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết 36 là một “quyết sách rất đúng đắn và mang tầm chiến lược”, cũng đã nhấn mạnh phải đánh giá lại toàn diện Nghị quyết này. Đồng thời ông cũng yêu cầu khi xây dựng nghị quyết mới phải phác thảo rõ hình hài của một quốc gia mạnh về biển trong thế kỷ XXI - là mục tiêu bao trùm mà Việt Nam đang phấn đấu sẽ như thế nào.

Đặc biệt, trong bối cảnh mới khi đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, hướng tới mục tiêu giàu có và thịnh vượng để có thể sánh vai với các cường quốc năm châu thì một trong những yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới, chuyển mạnh từ “tư duy phát triển kinh tế biển” sang “tư duy phát triển không gian biển”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu cần xem xét và làm rõ hơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế biển bền vững và quản trị không gian biển.

Trong bối cảnh mới khi đất nước bước vào 'kỷ nguyên vươn mình', hướng tới mục tiêu giàu có và thịnh vượng để có thể sánh vai với các cường quốc năm châu thì một trong những yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới, chuyển mạnh từ 'tư duy phát triển kinh tế biển' sang 'tư duy phát triển không gian biển'. Ảnh: Khương Trung.

Trong bối cảnh mới khi đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, hướng tới mục tiêu giàu có và thịnh vượng để có thể sánh vai với các cường quốc năm châu thì một trong những yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới, chuyển mạnh từ “tư duy phát triển kinh tế biển” sang “tư duy phát triển không gian biển”. Ảnh: Khương Trung.

Có thể nói, đây là hai mặt của một vấn đề, tuy nhiên điểm nhấn trong yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là muốn gợi mở, định hướng rất quan trọng để các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan tư vấn tiếp tục nghiên cứu, từ đó tham mưu cho Trung ương trong việc xây dựng một nghị quyết mới với tầm nhìn mới, giải pháp mới và sản phẩm mới mang tính đột phá.

Nghị quyết mới đó cần có tính tổng hợp, liên kết, liên thông cao hơn, đồng thời bảo đảm sự thống nhất mạnh mẽ hơn trong quản lý nhà nước đối với biển và hải đảo, để từ đó có thể đưa ra các định hướng phù hợp hơn cho tương lai.

Điều quan trọng cần thấy, tư duy về phát triển kinh tế bền vững không chấp nhận đánh đổi môi trường và phúc lợi xã hội của người dân bằng mọi giá, phải chú trọng an ninh biển quốc gia và an ninh con người thông qua việc điều chỉnh tốt mối quan hệ tương hỗ giữa “phát triển và ổn định” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. 

Nhìn lại thực tiễn thời gian qua, mặc dù chúng ta luôn nói đến phát triển kinh tế biển bền vững, nhưng trên thực tế vẫn chưa thực hiện đầy đủ nội hàm của khái niệm bền vững, còn tập trung quá nhiều vào tư duy phát triển kinh tế đơn thuần, hàm lượng khoa học  công nghệ trong các sản phẩm hàng hoá biển còn hạn chế. Đặc biệt, vẫn tồn tại phương thức khai thác bằng mọi giá, sử dụng các phương tiện khai thác còn cũ kỹ, lạc hậu, chưa phù hợp với đặc điểm và thế mạnh của hệ thống tài nguyên biển.

Có thể thấy nguyên do của thực trạng này là vẫn ưu tiên phát triển theo ngành, phân mảnh, cơ chế phối hợp liên ngành yếu. Trong khi tài nguyên biển phân bố trong không gian ba chiều và là đối tượng khai thác, sử dụng đa ngành, đa mục tiêu. Nghĩa là một hệ thống tài nguyên biển (một vùng biển), thậm chí một hệ sinh thái biển có thể phục vụ đồng thời nhiều ngành kinh tế khác nhau, các ngành cùng hưởng lợi, nên lợi ích phải hài hoà,…

Phát triển không gian biển dựa trên nguyên tắc phải đặt các hoạt động kinh tế trong một không gian được sử dụng đa ngành. Mục tiêu làm sao để các ngành kinh tế cùng tồn tại, hài hòa lợi ích, trong đó có lợi ích về an ninh, chủ quyền quốc gia; không xung đột với nhau, cùng phát triển, tối ưu hóa giá trị của một đơn vị không gian biển. Ảnh: Khương Trung.

Với cách tiếp cận theo ngành thì mỗi ngành thường ưu tiên lợi ích của ngành mình, địa phương mình, không quan tâm đầy đủ tới lợi ích của các ngành khác, địa phương khác. Vì vậy, các xung đột về lợi ích và xung đột về không gian phát triển trong cùng một vùng biển không những không giảm mà thậm chí còn có xu hướng gia tăng và ngày càng trở nên phức tạp hơn. Trong nhiều trường hợp, sự phát triển của ngành này có thể làm suy giảm hoặc triệt tiêu tiềm năng phát triển của ngành khác nếu không được quản lý/quản trị tốt.

Khi đó, cách tiếp cận phát triển kinh tế như vậy không còn bảo đảm tính bền vững, không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên biển trong hiện tại mà còn để lại những hệ quả lâu dài cho các thế hệ mai sau. Hay nói cách khác, chúng ta có thể thoả mãn lợi ích trước mắt nhưng lại làm mất đi những giá trị mà con cháu trong tương lai đáng lẽ được hưởng.

Không thể tiếp tục theo lối tư duy cũ, cho nên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mới nhấn mạnh cần nhìn nhận vấn đề từ một lăng kính mới: phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững trong một không gian biển được quản trị tổng hợp, liên ngành, liên thông và gắn kết nhau. Phát triển không gian biển dựa trên nguyên tắc phải đặt các hoạt động kinh tế trong một không gian được sử dụng đa ngành. Mục tiêu làm sao để các ngành kinh tế cùng tồn tại, hài hòa lợi ích, trong đó có lợi ích về an ninh, chủ quyền quốc gia; không xung đột với nhau, cùng phát triển, tối ưu hóa giá trị của một đơn vị không gian biển.

Ngoài ra, phải bố trí hợp lý các hoạt động kinh tế trong không gian biển. Cân bằng lợi ích của các ngành và nhu cầu sử dụng không gian của từng ngành để các hoạt động vừa phát triển, vừa duy trì được các mối liên kết tự nhiên và kinh tế trong cùng một khu vực bằng cách phân kỳ hợp lý trong quá trình lập kế hoạch khai thác, sử dụng biển. Thông qua cách tiếp cận này, chúng ta mới có thể sử dụng biển một cách hợp lý và hiệu quả.

Các hoạt động trên các vùng biển chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của nước ta không chỉ được xem xét về hiệu quả kinh tế đơn thuần mà còn phải cân nhắc những lợi ích quốc gia toàn cục và của ngành khác, nhất là phải gắn với bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng trên các vùng biển. Không để rơi vào cách tiếp cận một chiều, vì khi đó các yếu tố khác như môi trường, tác động xã hội, lợi ích của người dân rất dễ bị xem nhẹ hoặc bị đặt xuống hàng thứ yếu.

Tư duy mới giúp chúng ta nhận thức rõ hơn rằng, đối với phát triển bền vững biển đảo của nước ta không chỉ hiểu đơn giản là sự cân bằng giữa ba trụ cột truyền thống (kinh tế, xã hội và môi trường) theo cách tiếp cận lâu nay mà cần phải bổ sung thêm trụ cột an ninh và quản trị biển. Ảnh: Khương Trung.

Tư duy mới giúp chúng ta nhận thức rõ hơn rằng, đối với phát triển bền vững biển đảo của nước ta không chỉ hiểu đơn giản là sự cân bằng giữa ba trụ cột truyền thống (kinh tế, xã hội và môi trường) theo cách tiếp cận lâu nay mà cần phải bổ sung thêm trụ cột an ninh và quản trị biển. Tư duy phát triển mới không còn đi trên ba chân mà phải năm chân, bao gồm: kinh tế, xã hội, môi trường, quản trị và an ninh biển.

Cần nhấn mạnh rằng, không gian biển hiện nay cần được hiểu bao gồm nhiều tầng nấc khác nhau, nhưng liên thông và tương tác cho nhau: không gian trên trời, không gian mặt biển, không gian ngầm trong khối nước biển, không gian bề mặt đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Quản trị thích ứng, khai thác bền vững và kiểm soát hiệu quả các tầng không gian này để Việt Nam làm chủ được vùng biển và tự chủ chiến lược về biển và kinh tế biển.

Các tầng không gian biển nói trên không chỉ là không sinh tồn, phát triển kinh tế mà còn liên quan đến chiến lược an ninh biển quốc gia. Chính vì vậy, cách tiếp cận phát triển và quản trị dựa trên không gian biển thực chất là một triết lý phát triển mới. Từ góc nhìn không gian, chúng ta sẽ nhận diện được đầy đủ hơn các chiều cạnh của sự phát triển các ngành/lĩnh vực kinh tế biển mới (bao gồm kinh tế biển sâu) và mô hình quản trị tổng hợp về biển, đảo và vùng ven biển.

Ngược lại, nếu chỉ nhìn từ góc độ kinh tế biển thuần túy, ưu tiên khai thác tài nguyên ở dạng vật chất, tươi sống thì chúng ta chủ yếu chỉ nhìn thấy trụ cột kinh tế, còn các yếu tố khác phụ thuộc vào nhận thức hoặc thiện chí của từng chủ thể, bỏ qua các giá trị phi vật thể, giá trị dịch vụ và lợi thế của các đơn vị không gian biển, trong đó có các hệ sinh thái giàu có.

Nói cách khác, cách tiếp cận đó dễ dẫn tới sự thiếu bền vững trong phát triển. Tiếp cận phát triển và quản trị không gian biển giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn và bền vững hơn.

Khát vọng giàu mạnh

Hiện nay, các mục tiêu phát triển của đất nước được xác định theo những cột mốc quan trọng vào các năm 2030, 2045 và xa hơn, hướng đến mục tiêu xây dựng đất nước hùng cường, ổn định và thịnh vượng.

Với một quốc gia mà ba phần tư diện tích thuộc không gian biển như Việt Nam thì rõ ràng biển là động lực và lợi thế phát triển cực kỳ quan trọng. Vì thế, trong chiến lược phát triển đất nước, biển đảo luôn luôn và phải tiếp tục được đặt vào vị trí ưu tiên cao nhất trong tự chủ chiến lược đất nước.

Mặc dù còn nhiều hạn chế và tồn tại, nhưng những đóng góp vừa qua của kinh tế biển đối với nền kinh tế đất nước là rất lớn. Các hoạt động liên quan đến biển, đảo, vùng ven biển thường đóng góp khoảng từ 42% đến 58%, trong đó hoạt động kinh tế trực tiếp diễn ra trên không gian biển (thuần biển), chiếm khoảng 6 - 7% GDP cả nước. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ này lên khoảng 10% và 21 tỉnh, thành phố ven biển sẽ tiếp tục đóng góp khoảng 70 - 75% cho nền kinh tế quốc dân. Những con số cho thấy vai trò hết sức quan trọng của biển đối với sự phát triển của đất nước.

Tư duy phát triển mới không còn đi trên ba chân mà phải năm chân, bao gồm: kinh tế, xã hội, môi trường, quản trị và an ninh biển. Ảnh: Khương Trung.

Tư duy phát triển mới không còn đi trên ba chân mà phải năm chân, bao gồm: kinh tế, xã hội, môi trường, quản trị và an ninh biển. Ảnh: Khương Trung.

Có thể nói, biển với vai trò và chức năng quan trọng của nó sẽ góp phần rất quan trọng, thậm chí mang tính quyết định, đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số và đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net zero) vào năm 2050 mà chúng ta đang hướng tới. Nói cách khác, làm gì để chúng ta trả lời được câu hỏi vừa tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bảo đảm bền vững như tinh thần của Đại hội XIV?

Nhìn vào cách phát triển và quản trị không gian biển hiện nay, rõ ràng chúng ta thấy vẫn còn đó những điểm nghẽn cần tháo gỡ, như: Thể chế quản lý biển đảo còn bị chia cắt, phân mảnh, chồng chéo; cơ chế phối hợp liên ngành và cách tiếp cận quản trị biển theo không gian chậm được hình thành; nguồn nhân lực biển còn phân tán, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhất là cho phát triển “kinh tế biển sâu, biển xa”.

Bên cạnh đó, hàm lượng khoa học trong các sản phẩm từ biển còn thấp; xung đột lợi ích và không gian trong phát triển giữa các chủ thể khai thác, sử dụng cùng một vùng biển tiếp tục gia tăng trong bối cảnh Biển Đông luôn chịu tác động xấu từ thiên tai, nhân tai, từ biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương,…

Trong khi đó, mục tiêu Việt Nam phấn đấu trở thành một Quốc gia biển mạnh trong Thế kỷ XXI đòi hỏi phải có: nền khoa học, công nghệ biển tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực biển chất lượng cao, có khả năng hội nhập quốc tế về biển và đại dương; hệ thống quản trị, quản lý biển tổng hợp và thống nhất; kinh tế biển phát triển nhanh, xanh và bền vững; quốc phòng, an ninh biển đủ khả năng bảo vệ vững chắc chủ quyền, các quyền và lợi ích biển khác của Việt Nam.

Để đạt được mục tiêu đó, cùng với hoàn thiện thể chế, chính sách thì việc tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ biển và chuyển đổi số, AI trong phát triển và quản trị không gian biển sẽ giúp Việt Nam đột phá, nhanh chóng thoát khỏi “tụt hậu” trong tất cả các lĩnh vực phát triển và quản trị biển.

Đi xa hơn và xuống biển sâu hơn, như kinh nghiệm cho thấy biển mang lại hiệu quả kinh tế lớn, lâu dài, nhưng cũng đòi hỏi xuất đầu tư lớn; các ngành kinh tế biển, nhất là “kinh tế biển sâu, biển xa”, phải đi theo lộ trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; quốc phòng, an ninh biển phải hiện đại, đủ sức kiểm soát được vùng trời, không gian mặt biển và không gian ngầm dưới đáy biển.

Tất cả những điều nói trên chỉ có thể đạt được nếu chúng ta phát triển mạnh và ứng dụng thành công các thành tựu khoa học công nghệ biển tiên tiến, trong đó có các công nghệ nổi, di động, tự động hoá cao, cùng với một nguồn nhân lực biển đáp ứng nhu cầu mới.

Đặc biệt, ngoài không gian biển chúng ta còn một không gian khác rất quan trọng, đó là hệ thống đảo với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, phân bố thành nhiều cụm đảo và tuyến đảo trên biển khác nhau, tập trung ở vùng biển nông ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi thuộc Đặc khu Hoàng Sa và Trường Sa.

Những đảo/cụm đảo này không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn mang ý nghĩa quyết định liệu chúng ta có trở thành quốc gia giàu mạnh về biển hay không. Vì nhìn từ góc độ kinh tế, mỗi hòn đảo như một thỏi “vàng xanh” trên nền biển bạc; nhìn từ góc độ độ chủ quyền, mỗi hòn đảo như một cột mốc chủ quyền tự nhiên của quốc gia; và nhìn từ góc độ an ninh, quốc phòng thì mỗi hòn đảo như một “chiến hạm” trên biển không thể đánh chìm. Đặc biệt, hơn 2.800 đảo nhỏ hoang sơ, hoang dã với các hệ cảnh quan ngầm dưới đáy biển rất đặc sắc của chúng còn chưa được khai thác theo đúng nghĩa của nó.

Tiềm năng biển chỉ thực sự được khơi thông, đánh thức và phát huy tác dụng khi chúng ta thực sự có khát vọng phát triển, cả dân tộc đồng lòng, quyết tâm thực hiện các định hướng và mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt ra. Ảnh: Khương Trung.

Tiềm năng biển chỉ thực sự được khơi thông, đánh thức và phát huy tác dụng khi chúng ta thực sự có khát vọng phát triển, cả dân tộc đồng lòng, quyết tâm thực hiện các định hướng và mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt ra. Ảnh: Khương Trung.

Muốn mạnh về biển thì ngoài phát triển kinh tế biển, kinh tế đảo, kinh tế biển sâu, biển xa, các ngành kinh tế biển mới có giá trị tái tạo, chúng ta còn phải bảo đảm được môi trường hòa bình, ổn định và an ninh trên biển. Do đó, như trên đã nói, mọi hoạt động phát triển không gian biển đều phải hướng tới mục tiêu tạo ra các lợi ích kép, các hệ thống công trình/hạ tầng đa dụng. Trong đó, cần ưu tiên khai thác không gian đối với hệ thống đảo ven bờ, xa bờ để liên kết các mảng không gian biển, đảo và vùng ven biển sao cho liên thông, tạo lợi ích kép, hỗ trợ nhau trong phát triển, bảo tồn và bảo vệ tổ quốc từ phía biển. Theo đó, cùng với phát triển đô thị ven biển, tiếp tục hình thành các trung tâm kinh tế biển đảo xanh, tạo thành các “cực tăng trưởng” kinh tế mới trên biển, trung tâm logictics để góp phần bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa.

Cuối cùng, tôi hình dung rằng trong tương lai Việt Nam sẽ xây dựng được một nền kinh tế biển phát triển nhanh, xanh, hiệu quả và bền vững. Đó phải là một nền kinh tế dựa trên việc làm chủ được khoa học, công nghệ do cuộc cách mạng công nghệ 4.0 mang lại. Một nền kinh tế ứng dụng thành công các thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến và công nghệ hiện đại, đồng thời, góp phần củng cố vững chắc an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, duy trì môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực Biển Đông và trên thế giới.

Chỉ khi hội đủ các điều kiện đó, Việt Nam mới có thể xây dựng được một không gian biển hòa bình, ổn định và thịnh vượng; đất nước ta sớm trở thành quốc gia mạnh về biển ở Thế kỷ 21. Tiềm năng biển chỉ thực sự được khơi thông, đánh thức và phát huy tác dụng khi chúng ta thực sự có khát vọng phát triển, cả dân tộc đồng lòng, quyết tâm thực hiện các định hướng và mục tiêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt ra.

Vũ Quang - Tiên Lữ (nongnghiepmoitruong.vn)

 

Ý kiến

Khánh Hòa định hình cực tăng trưởng mới và phát triển xanh

Tổ chức không gian phát triển theo ba cực tăng trưởng, đồng thời đẩy mạnh kinh tế biển, công nghiệp xanh, năng lượng sạch và khoa học công nghệ, Khánh Hòa đang cụ thể hóa những động lực mới cho giai đoạn 2026–2030, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Nỗ lực kiến tạo không gian kinh tế biển liên vùng

Nỗ lực kiến tạo không gian kinh tế biển liên vùng

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã khẳng định tầm nhìn chiến lược về xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Trọng tâm của tầm nhìn ấy không chỉ nằm ở dải cát trắng hay đường bờ biển dài của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, mà còn ở năng lực kết nối không gian kinh tế từ đại ngàn Tây Nguyên cho tới “đầu tàu” TP. HCM.
Xây dựng quốc gia biển mạnh: Khai thác 'mỏ vàng' điện gió ngoài khơi

Xây dựng quốc gia biển mạnh: Khai thác 'mỏ vàng' điện gió ngoài khơi

Nghị quyết 20-NQ/TW mở cơ hội khai thác 'mỏ vàng' điện gió ngoài khơi, tạo động lực phát triển kinh tế biển xanh, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững.