Sign In

Xây dựng quốc gia biển mạnh: Khai thác 'mỏ vàng' điện gió ngoài khơi

09:17 17/08/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Nghị quyết 20-NQ/TW mở cơ hội khai thác 'mỏ vàng' điện gió ngoài khơi, tạo động lực phát triển kinh tế biển xanh, bảo đảm an ninh năng lượng và tăng trưởng bền vững.

 

Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã xác định phát triển mạnh các ngành kinh tế biển mới, ưu tiên năng lượng tái tạo, chuyển đổi năng lượng bền vững và khai thác hiệu quả không gian biển. Với tiềm năng thuộc nhóm hàng đầu thế giới, điện gió ngoài khơi được kỳ vọng sẽ trở thành một trụ cột mới của kinh tế biển xanh, không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng mà còn tạo dư địa phát triển nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ biển hiện đại.

TS. Dư Văn Toán cho rằng, giá trị của điện gió ngoài khơi vượt xa câu chuyện sản xuất điện mà kéo theo sự phát triển của hàng chục ngành công nghiệp phụ trợ như cơ khí chế tạo, đóng tàu, cảng biển, logistics, khảo sát biển... Ảnh: Yên Thi.

TS. Dư Văn Toán cho rằng, giá trị của điện gió ngoài khơi vượt xa câu chuyện sản xuất điện mà kéo theo sự phát triển của hàng chục ngành công nghiệp phụ trợ như cơ khí chế tạo, đóng tàu, cảng biển, logistics, khảo sát biển... Ảnh: Yên Thi.

Xung quanh những cơ hội, thách thức và giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu này, phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã trao đổi với TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Nghị quyết 20-NQ/TW không chỉ đặt vấn đề khai thác nguồn năng lượng tái tạo mà còn mở ra cách tiếp cận mới về khai thác không gian biển cho phát triển. Với lợi thế đặc biệt của Việt Nam, điện gió ngoài khơi có thể đóng vai trò như thế nào trong việc hình thành một trụ cột kinh tế biển mới, thưa ông?

Có thể nói, điện gió ngoài khơi là một trong những lĩnh vực hội tụ đầy đủ các yếu tố để trở thành ngành kinh tế biển chiến lược của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Khác với nhiều nguồn tài nguyên hữu hạn, gió ngoài khơi là nguồn tài nguyên tái tạo, sạch và gần như vô tận. Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng gần một triệu km² cùng điều kiện gió ổn định quanh năm. Đây là lợi thế mà không nhiều quốc gia có được.

"Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá có nguồn gió ngoài khơi thuận lợi nhất; trên thế giới nằm trong nhóm những quốc gia có điều kiện phát triển điện gió ngoài khơi hàng đầu", TS. Dư Văn Toán nói.

Các nghiên cứu quốc tế trước đây của Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam có khoảng 600 GW tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi. Những nghiên cứu cập nhật của các cơ quan chuyên môn trong nước đã nâng con số này lên khoảng 1.068 GW. Theo nghiên cứu xác định không gian biển cho điện gió ngoài khơi, với bộ tiêu chí loại trừ các khu vực hàng hải, luồng tàu, khu bảo tồn biển và các vùng không phù hợp, tiềm năng khai thác thực tế vẫn có thể đạt khoảng 886 GW với không gian biển phát triển rộng khoảng 130 ngàn km2.

Đó là cơ sở khoa học rất quan trọng để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về kinh tế biển Việt Nam, đưa ngành điện gió biển thực sự trở thành ngành kinh tế khai thác sử dụng không gian phát triển chiến lược của đất nước.

Có một nghịch lý là Việt Nam được đánh giá có tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc nhóm hàng đầu thế giới, nhưng đến nay vẫn chưa có dự án thương mại. Theo ông, đâu là khoảng cách lớn nhất giữa một tiềm năng rất lớn và khả năng biến tiềm năng ấy thành năng lực phát triển thực tế của đất nước?

Điều đáng mừng là tư duy, nhận thức về phát triển điện gió ngoài khơi đã thay đổi rất rõ cùng xu hướng với ngành điện gió ngoài khơi trên thế giới từ sau năm 2020 với cam kết net zero của Việt Nam, giảm thiểu carbon, chống lại sự ấm lên toàn cầu. Việc phát triển điện gió ngoài khơi đã được xác lập trong Luật Điện lực năm 2024. Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng đã dành không gian phát triển rất lớn cho lĩnh vực này với mục tiêu đạt khoảng 6 GW vào năm 2030 và gần 140 GW vào năm 2050.

Tuy nhiên, từ quy hoạch đến hiện thực vẫn còn khoảng cách khá lớn. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế. Hoạt động đầu tư điện gió ngoài khơi liên quan đồng thời đến Luật Điện lực, Luật Đầu tư, Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Quy hoạch, Luật đất đai cùng nhiều quy định khác. Khi các quy định chưa đồng bộ, nhà đầu tư phải thực hiện rất nhiều thủ tục, làm kéo dài thời gian chuẩn bị dự án.

Ngoài ra, chúng ta vẫn chưa có cơ chế rõ ràng về quản lý dữ liệu, cấp phép cho các trang thiết bị phục vụ hoạt động khảo sát; chưa có hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đồng bộ; chưa có cơ chế giá điện dài hạn đủ sức tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng quốc tế.

Một dự án điện gió ngoài khơi có quy mô 1 GW cần nguồn vốn khoảng 3-4 tỷ USD. Với quy mô đầu tư rất lớn, nếu hành lang pháp lý chưa rõ ràng thì việc huy động vốn quốc tế sẽ rất khó khăn.

TS. Dư Văn Toán cho rằng, cần nhanh chóng hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển điện gió ngoài khơi, nhất là các quy định về quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư và đấu nối hạ tầng truyền tải. Ảnh: Petrovietnam.

Điện gió ngoài khơi đưa một khối lượng rất lớn hạ tầng, công nghệ và hoạt động kinh tế ra biển. Từ góc nhìn quản trị không gian biển, liệu những công trình này có thể trở thành một dạng “hạ tầng chiến lược” vừa phục vụ phát triển kinh tế, vừa tăng cường năng lực quan trắc, kết nối và hiện diện của Việt Nam trên biển?

Giá trị của điện gió ngoài khơi vượt xa câu chuyện sản xuất điện. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mỗi dự án điện gió ngoài khơi đều kéo theo sự phát triển của hàng chục ngành công nghiệp phụ trợ như cơ khí chế tạo, đóng tàu, cảng biển, logistics, khảo sát biển, vận tải chuyên dụng, lắp đặt thiết bị, bảo trì, công nghệ dự báo khí tượng-hải văn, nuôi trồng thủy hải sản, san hô và đào tạo nguồn nhân lực.

Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết số 20-NQ/TW về hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh và phát triển các ngành công nghiệp biển hiện đại.

Với 139 GW điện gió ngoài khơi cho 2050 trong Quy hoạch điện VIII, nếu được hoàn thiện, vốn đầu tư có thể lên tới gần 500 tỷ USD, gần ngang với GDP của nước ta hiện nay. Sự đóng góp của điện gió ngoài khơi có thể góp phần trong tăng trưởng hơn 10% của nước ta hàng năm..

Đặc biệt, điện gió ngoài khơi tạo điều kiện để khai thác đa mục tiêu không gian biển. Các khu vực quanh chân turbine có thể trở thành nơi phục hồi hệ sinh thái biển, hình thành rạn nhân tạo; khu vực giữa các turbine có thể kết hợp nuôi biển công nghệ cao hoặc điện mặt trời nổi. 

Khu Điện gió Hòa Bình 1. Ảnh: Trọng Linh.

Khu Điện gió Hòa Bình 1. Ảnh: Trọng Linh.

Trong tương lai, khi nguồn điện xanh dồi dào, Việt Nam còn có thể phát triển hydro xanh và các nhiên liệu xanh phục vụ xuất khẩu, mở rộng chuỗi giá trị kinh tế biển.

Dù vậy, tôi cho rằng bối cảnh hiện nay đã có nhiều tín hiệu tích cực. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 10 dự án điện gió ngoài khơi được cấp phép khảo sát, với tổng quy mô dự kiến trên 10.000 MW. Điều này cho thấy niềm tin của các nhà đầu tư vào tiềm năng phát triển điện gió ngoài khơi của Việt Nam vẫn rất lớn, đồng thời cũng phản ánh sự chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới của ngành.

Việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW vào thời điểm này có ý nghĩa rất quan trọng. Nghị quyết không chỉ khẳng định chủ trương phát triển mạnh các ngành kinh tế biển mới và năng lượng tái tạo ngoài khơi, mà còn tạo cơ sở chính trị để các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ những vướng mắc về quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, cấp phép khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, đấu nối hạ tầng và cơ chế phát triển thị trường điện.

Tôi kỳ vọng, cùng với quá trình hoàn thiện pháp luật của các bộ, ngành, Nghị quyết số 20-NQ/TW sẽ trở thành cú hích quan trọng, tạo động lực để điện gió ngoài khơi chuyển từ giai đoạn tiềm năng sang giai đoạn phát triển thực chất, góp phần hình thành ngành công nghiệp biển xanh mới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển.

Không chỉ về kinh tế, nhiều ý kiến cho rằng điện gió ngoài khơi còn có ý nghĩa về quản trị biển. Quan điểm của ông ra sao?

Tôi cho rằng đây là khía cạnh rất quan trọng. Các trang trại điện gió ngoài khơi quy mô lớn sẽ đi cùng hệ thống quan trắc khí tượng, hải văn, radar, thông tin liên lạc và nhiều hạ tầng kỹ thuật hiện đại.

Những công trình này góp phần nâng cao năng lực quản lý, giám sát và khai thác không gian biển một cách hiệu quả hơn.

Có thể hình dung, mỗi cụm điện gió ngoài khơi không chỉ tạo ra điện sạch mà còn trở thành một "cột mốc xanh" giữa biển khơi, thể hiện sự hiện diện của Việt Nam thông qua các hoạt động phát triển kinh tế hợp pháp, bền vững và hiện đại.

Nếu có mạng lưới các trang trại điện gió dọc theo bờ biển Việt Nam , chúng ta có thể có kênh liên lạc mangh thông tin cáp quang ngầm dưới biển, có các trung tâm dữ liệu ngầm dưới biển, đươc bảo vệ an toàn phục vụ phát triển kinh tế, gắn với an ninh, chủ quyền biển đảo quốc gia…

Đây cũng là cách nhiều quốc gia biển trên thế giới đang thực hiện để kết hợp phát triển kinh tế với quản trị không gian biển.

Điện gió ở Sóc Trăng (Hậu Giang). Ảnh: Trọng Linh. 

Điện gió ở Sóc Trăng (Hậu Giang). Ảnh: Trọng Linh.

Nghị quyết 20-NQ/TW đã tạo ra một “điểm tựa” chính trị rất quan trọng cho kinh tế biển. Theo ông, Việt Nam cần biến điểm tựa đó thành những đột phá thể chế, hạ tầng, công nghệ và nguồn nhân lực như thế nào để điện gió ngoài khơi thực sự trở thành một ngành công nghiệp biển mới, thay vì chỉ dừng ở lợi thế tài nguyên và mục tiêu quy hoạch?

Theo tôi, trước hết cần nhanh chóng hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan đến phát triển điện gió ngoài khơi, nhất là các quy định về quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư và đấu nối hạ tầng truyền tải.

Cùng với đó là xây dựng cơ chế khuyến khích đủ mạnh đối với các dự án tiên phong; đầu tư đồng bộ hệ thống cảng biển, công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về gió ngoài khơi.

Trong đó, cần có chính sách đột phá để phát triển nguồn nhân lực cho ngành điện gió ngoài khơi. Bên cạnh đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia trong nước, Việt Nam cần có cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư giàu kinh nghiệm từ các quốc gia có ngành điện gió ngoài khơi phát triển như Đan Mạch, Anh, Đức, Hà Lan... đến làm việc, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực tại Việt Nam. Đồng thời, cũng cần có chính sách thu hút người Việt Nam ở nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực này trở về đóng góp cho quê hương. Đây sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành điện gió ngoài khơi.

Tôi cũng cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần nghiên cứu thành lập một viện hoặc trung tâm nghiên cứu biển xuất sắc tầm quốc gia, hoạt động theo mô hình mở, kết nối với các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Đây sẽ là nơi quy tụ các nhà khoa học trong và ngoài nước, nghiên cứu các công nghệ lõi về năng lượng tái tạo biển, hải dương học, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo, quan trắc và dự báo biển; đồng thời là hạt nhân đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các ngành kinh tế biển mới, đặc biệt là điện gió ngoài khơi.

Việc quy hoạch cũng phải dựa trên cơ sở khoa học, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế của cộng đồng ngư dân.

Nếu những nhiệm vụ này được triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2026-2027, tôi tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể xuất hiện những dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên vào cuối thập niên này.

Quan trọng hơn, chúng ta sẽ từng bước hình thành một ngành công nghiệp biển xanh quy mô lớn, góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nghị quyết 20-NQ/TW được ban hành đúng vào thời điểm các dự án điện gió ngoài khơi đang bước vào giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Khi các quy định pháp luật được đồng bộ hóa và cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách phù hợp, các chủ đầu tư sẽ có thêm cơ sở pháp lý để triển khai các bước tiếp theo của dự án, từ khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi đến thu xếp vốn và triển khai xây dựng.

 

Trường Giang - Trọng Linh

Ý kiến

Khánh Hòa định hình cực tăng trưởng mới và phát triển xanh

Tổ chức không gian phát triển theo ba cực tăng trưởng, đồng thời đẩy mạnh kinh tế biển, công nghiệp xanh, năng lượng sạch và khoa học công nghệ, Khánh Hòa đang cụ thể hóa những động lực mới cho giai đoạn 2026–2030, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh

Những chia sẻ tâm huyết của PGS.TS Nguyễn Chu Hồi với khát vọng Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển mạnh.
Nỗ lực kiến tạo không gian kinh tế biển liên vùng

Nỗ lực kiến tạo không gian kinh tế biển liên vùng

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã khẳng định tầm nhìn chiến lược về xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Trọng tâm của tầm nhìn ấy không chỉ nằm ở dải cát trắng hay đường bờ biển dài của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, mà còn ở năng lực kết nối không gian kinh tế từ đại ngàn Tây Nguyên cho tới “đầu tàu” TP. HCM.