Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã thể hiện nỗ lực đổi mới tư duy quản lý nhà nước, tạo lập những động lực tăng trưởng mới từ biển.
Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI, dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang được xem xét với nhiều nội dung mới về quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển. Một trong những vấn đề đáng chú ý là hoàn thiện cơ chế phân bổ, huy động nguồn lực biển phục vụ phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, quốc phòng và an ninh. Từ góc nhìn của Đại biểu Quốc hội, Đại tá, PGS.TS Nguyễn Trung Kiên phân tích những điểm mới của dự thảo Luật và các vấn đề cần quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách.
Biển và hải đảo không chỉ là không gian sinh tồn, địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, mà còn là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới mô hình phát triển và nâng cao vị thế quốc gia.
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) có nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển; mở rộng cơ hội đầu tư, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền, an ninh quốc gia.

Đại tá, PGS.TS Nguyễn Trung Kiên - Đại biểu hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng an ninh và Đối ngoại của Quốc hội.
Từ tiềm năng biển, đảo đến nguồn lực phát triển quốc gia
Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về biển và hải đảo với đường bờ biển dài hơn 3.260 km, gần 3000 hòn đảo lớn nhỏ và vùng biển khoảng gần 1 triệu km2. Với vị trí địa kinh tế, địa chính trị quan trọng, hệ thống cảng biển, các vùng nước ven bờ, tài nguyên sinh vật, khoáng sản, năng lượng và những hệ sinh thái biển phong phú.
Biển mở ra không gian phát triển rộng lớn cho các ngành vận tải, logistics, du lịch, thủy sản, năng lượng tái tạo, công nghiệp biển và nhiều ngành kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, tiềm năng tài nguyên không tự chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế nếu không biết hoạch định và phát huy. Một vùng biển giàu tài nguyên nhưng thiếu thông tin, chưa có quy hoạch rõ ràng, chưa xác lập được quyền sử dụng hoặc còn chồng chéo về thẩm quyền quản lý thì khó có thể thu hút đầu tư hiệu quả.
Một dự án điện gió ngoài khơi, cảng biển, nuôi biển công nghệ cao hay trung tâm logistics biển dù có triển vọng lớn vẫn có thể gặp khó khăn nếu có quá nhiều yêu cầu, thủ tục phức tạp. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản trị biển: từ quản lý tài nguyên theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản lý tổng hợp, thống nhất; từ khai thác tài nguyên sang tạo lập các chuỗi giá trị kinh tế biển; từ bảo vệ môi trường mang tính khắc phục sang chủ động phòng ngừa, bảo tồn và phục hồi.

Biển mở ra không gian phát triển rộng lớn cho các ngành vận tải, logistics, du lịch, thủy sản, năng lượng tái tạo, công nghiệp biển và nhiều ngành kinh tế mới. Ảnh: HT.
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn.
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này là bước cụ thể hóa quan trọng định hướng đó bằng các quy định pháp luật về quản lý, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực biển. Khoản 1 Điều 4 của dự thảo xác định chính sách xây dựng nền quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất, dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu số và quy hoạch không gian biển quốc gia; quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững tài nguyên, không gian biển gắn với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.
Đây là sự chuyển biến quan trọng về tư duy lập pháp trong đó biển không chỉ là đối tượng quản lý, bảo vệ mà còn là không gian phát triển cần được tổ chức, khai thác hợp lý để tạo ra của cải vật chất cho đất nước, tạo sinh kế cho nhân dân.
Xác lập quyền sử dụng khu vực biển, tạo nền tảng huy động nguồn lực đầu tư
Điều 24 quy định 3 hình thức xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển, bao gồm giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển, tùy thuộc tính chất hoạt động và phạm vi vùng biển.
Quy định này góp phần hình thành cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc khai thác, sử dụng không gian biển, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tiếp cận nguồn lực phục vụ hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Chẳng hạn, để triển khai một dự án nuôi biển công nghệ cao hoặc phát triển hạ tầng năng lượng ngoài khơi, nhà đầu tư cần xác định được khu vực sử dụng, thời hạn, mục đích, quyền và nghĩa vụ tương ứng. Khi những yếu tố này được pháp luật quy định minh bạch, khả năng tính toán hiệu quả đầu tư, huy động vốn và tổ chức sản xuất sẽ được nâng cao.

Điều 24 quy định 3 hình thức xác lập, ghi nhận quyền sử dụng khu vực biển, bao gồm giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Ảnh: HT.
Điều 27 quy định về đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, đây là cơ chế có ý nghĩa quan trọng nhằm từng bước phân bổ nguồn lực biển theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch, góp phần xác định giá trị kinh tế của quyền sử dụng khu vực biển và hạn chế tình trạng phân bổ nguồn lực thiếu hiệu quả.
Cùng với đó, các Điều 34, 35 và 36 quy định về chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn và thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, tài sản gắn liền với khu vực biển theo những điều kiện nhất định. Những quy định này mở ra khả năng đưa quyền sử dụng khu vực biển vào các quan hệ kinh tế hợp pháp, giúp nâng cao hiệu quả huy động và luân chuyển nguồn lực.
Thay vì chỉ dừng ở quyền khai thác, sử dụng, quyền sử dụng khu vực biển có thể trở thành một yếu tố hỗ trợ tổ chức lại sản xuất, thu hút vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, việc khai thác giá trị kinh tế của quyền sử dụng khu vực biển phải đi đôi với kiểm soát chặt chẽ nguy cơ đầu cơ, chuyển nhượng dự án không đúng mục đích hoặc sử dụng khu vực biển làm phương hại đến quốc phòng, an ninh, môi trường và lợi ích cộng đồng.
Đổi mới cơ chế ưu đãi, thúc đẩy các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao
Không chỉ xác lập quyền sử dụng khu vực biển, dự thảo còn thiết kế hệ thống chính sách nhằm trực tiếp thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển. Điều 41 quy định các nhóm dự án, hoạt động được xem xét ưu đãi, hỗ trợ, trong đó có nuôi biển công nghệ cao, nuôi biển xa bờ; cảng biển xanh, vận tải biển phát thải thấp; năng lượng tái tạo ngoài khơi; du lịch biển, đảo bền vững; bảo tồn hệ sinh thái; xây dựng hạ tầng thiết yếu; nghiên cứu, ứng dụng công nghệ biển và khai thác tài nguyên biển sâu.
Điều này phản ánh định hướng phát triển kinh tế biển chú trọng các ngành có hàm lượng khoa học, công nghệ và giá trị gia tăng cao. Khoản 1 Điều 42 quy định nhiều cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, như miễn, giảm tiền sử dụng biển; ưu đãi về thuế; ưu tiên tiếp cận hạ tầng, dữ liệu; hỗ trợ tài chính xanh, tín dụng xanh, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.

Theo đại biểu Nguyễn Trung Kiên, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo không chỉ xác lập quyền sử dụng khu vực biển, mà còn thiết kế hệ thống chính sách nhằm trực tiếp thúc đẩy các hoạt động kinh tế biển. Ảnh: KT.
Dự thảo luật quan tâm hỗ trợ những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp, bao gồm thông tin, công nghệ, tài chính và nguồn nhân lực. Ví dụ, một dự án điện gió ngoài khơi không chỉ cần khu vực biển để xây dựng công trình mà còn cần dữ liệu gió, địa chất, hải văn, hạ tầng truyền tải điện và cơ chế phối hợp giữa nhiều cơ quan quản lý. Nếu các yếu tố này được kết nối đồng bộ, chi phí chuẩn bị đầu tư sẽ giảm, khả năng triển khai dự án sẽ được cải thiện.
Tạo lập quỹ không gian biển, giảm chi phí và thời gian chuẩn bị đầu tư
Một nội dung mới đáng quan tâm là Điều 45 về tạo lập quỹ không gian biển phục vụ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo. Theo đó quỹ không gian biển được hình thành từ các khu vực đã được điều tra, đánh giá, quan trắc, khảo sát, xác định ranh giới, mục đích ưu tiên sử dụng và các điều kiện khai thác. Có thể xem đây là bước chuyển từ cơ chế chờ nhà đầu tư tự tìm kiếm, khảo sát địa điểm sang chủ động chuẩn bị nguồn lực không gian biển phục vụ thu hút đầu tư.
Khi Nhà nước chủ động điều tra, xác định những khu vực phù hợp cho điện gió ngoài khơi, nuôi biển, cảng biển hoặc các hoạt động kinh tế khác, doanh nghiệp sẽ có điều kiện tiếp cận thông tin ban đầu đáng tin cậy hơn, giảm rủi ro và chi phí nghiên cứu dự án.
Cùng với đó, dự thảo quy định cơ chế tập trung, phối hợp liên ngành, liên vùng, trong đó đặt ra yêu cầu liên thông, một đầu mối giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, xây dựng, sử dụng khu vực biển, tài nguyên, môi trường, hàng hải, thủy sản, năng lượng, quốc phòng và an ninh.
Khoa học, công nghệ và dữ liệu trở thành nguồn lực mới của kinh tế biển
Điều 15 quy định về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, tạo nền tảng tích hợp, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế biển.
Một hệ thống dữ liệu biển đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên có thể hỗ trợ nhiều hoạt động: dự báo ngư trường, lựa chọn vị trí phát triển năng lượng tái tạo, quản lý luồng hàng hải, theo dõi biến động môi trường, cảnh báo thiên tai và đánh giá tiềm năng tài nguyên.
Điều 43 quy định chính sách khuyến khích tài chính biển xanh, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ biển, bao gồm công nghệ năng lượng tái tạo ngoài khơi, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và quan trắc thông minh.

Một nội dung mới đáng quan tâm là Điều 45 về tạo lập quỹ không gian biển phục vụ phát triển các hoạt động kinh tế trên biển và hải đảo. Ảnh: HT.
Điều 44 tiếp tục quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình kinh tế biển mới, công nghệ biển mới. Những quy định này tạo cơ sở để thử nghiệm các phương thức phát triển mới trong điều kiện rủi ro được nhận diện, giám sát và kiểm soát, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo mà vẫn bảo đảm yêu cầu về an toàn, môi trường, quốc phòng và an ninh.
Đây là hướng đi cần thiết để chuyển dần từ nền kinh tế khai thác tài nguyên biển sang nền kinh tế biển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.
Phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ môi trường và lợi ích của người dân
Khơi thông nguồn lực biển không đồng nghĩa với khai thác bằng mọi giá. Tài nguyên biển có giới hạn, trong khi nhiều hệ sinh thái rất nhạy cảm và khó phục hồi khi bị tổn hại. Dự thảo đã dành những quy định quan trọng cho yêu cầu phát triển bền vững.
Điều 48 quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ; Điều 52 quy định những hoạt động không được phép thực hiện và những hoạt động có điều kiện trong vùng bờ; các Điều 55, 56, 57 và 58 quy định về kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động trên biển, từ đất liền và hải đảo, quản lý rác thải biển và kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới.
Điều 63 đến Điều 66 quy định về thiệt hại, trách nhiệm và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên biển. Những quy định này góp phần tăng cường trách nhiệm của chủ thể gây ô nhiễm, bảo vệ môi trường và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên bị thiệt hại.
Điều 47 quy định chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư, địa phương ven biển, hải đảo, trong đó chú trọng đào tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển mô hình sản xuất mới, chuyển đổi sinh kế và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương.
Người dân ven biển, đặc biệt là ngư dân và cộng đồng sinh sống trên các đảo, không chỉ là đối tượng chịu tác động của chính sách mà phải trở thành chủ thể được tham gia, được hưởng lợi từ quá trình phát triển kinh tế biển. Một nền kinh tế biển phát triển bền vững phải đồng thời tạo ra giá trị kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Hoàn thiện thể chế để biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng
Có thể khẳng định, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo lần này đã thể hiện nỗ lực đổi mới tư duy quản lý nhà nước, hướng tới khơi thông nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và tạo lập những động lực tăng trưởng mới từ biển.
Để các quy định thực sự phát huy hiệu quả, quá trình hoàn thiện dự thảo cần tiếp tục bảo đảm tính thống nhất với pháp luật về đất đai, đầu tư, đấu giá, xây dựng, hàng hải, thủy sản, dầu khí, bảo vệ môi trường, quốc phòng và an ninh; đồng thời cụ thể hóa trách nhiệm thực thi, kiểm soát quyền lực, phòng ngừa lợi dụng chính sách và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân. Chuyển mạnh từ tư duy kiểm soát hoạt động khai thác sang tư duy quản trị nhằm vừa bảo vệ, vừa kiến tạo điều kiện để các nguồn lực biển được sử dụng hợp lý, hiệu quả, minh bạch và bền vững.
Biển Việt Nam không chỉ là không gian địa lý, mà còn là không gian sinh tồn, không gian phát triển, không gian kinh tế, không gian sinh thái và không gian chiến lược quốc gia. Hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chính là hoàn thiện thể chế để chuyển hóa tiềm năng biển thành nguồn lực thực tế, biến lợi thế biển thành sức mạnh kinh tế, gắn phát triển nhanh với phát triển bền vững, góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, vững vàng về chủ quyền và an ninh quốc gia.
Đại tá, PGS.TS Nguyễn Trung Kiên
Đại biểu chuyên trách tại Ủy ban Quốc phòng an ninh và Đối ngoại của Quốc hội