Sign In

Vận hành 27 khu bảo tồn biển Việt Nam vào năm 2030

09:02 22/04/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Ngành thủy sản đổi mới quản lý, huy động xã hội hóa nhằm nâng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.

Khơi thông nguồn lực kinh tế xanh dương

Sáng 21/4, tại tỉnh Khánh Hòa, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tại Việt Nam tổ chức hội thảo kỹ thuật “Giải pháp thiết lập và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

Sự kiện diễn ra trong bối cảnh ngành thủy sản đang khẳng định vị thế chiến lược với tốc độ tăng trưởng ổn định từ 3,3% đến 4,3% mỗi năm. Với kim ngạch xuất khẩu đạt con số ấn tượng 11,3 tỷ USD vào năm 2025 và đóng góp khoảng 16% tổng GDP cả nước, ngành đang tập trung phát triển dựa trên ba nhóm trụ cột cốt yếu là nuôi trồng thủy sản bền vững, hiện đại hóa khai thác và chú trọng bảo vệ nguồn lợi gắn liền với phục hồi hệ sinh thái biển.

Một góc khu bảo tồn biển Hòn Cau, tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: KS.

Phát biểu tại hội thảo, ông Nguyễn Quang Hùng - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư - nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Nghị quyết đặt mục tiêu đạt 6% diện tích vùng biển tự nhiên được bảo vệ vào năm 2030. Mặc dù mục tiêu chung của thế giới hướng tới con số 30%, nhưng đối với Việt Nam, đây vẫn là một thách thức lớn.

Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hệ thống bảo tồn biển Việt Nam được quy hoạch với tầm nhìn chiến lược đến năm 2030, bao gồm 11 khu bảo tồn cấp quốc gia và 16 khu bảo tồn cấp tỉnh. Tổng diện tích khoanh vùng bảo tồn đạt 463.587 ha, tương đương 0,463% diện tích vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, đến nay thực tế triển khai mới chỉ đạt 215.191 ha, chiếm khoảng 0,215% diện tích biển.

Trước thực trạng đó, việc thực hiện Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với mục tiêu thiết lập tổng cộng 27 khu bảo tồn biển trong giai đoạn tới, đòi hỏi một sự bứt phá mạnh mẽ trong công tác triển khai.

Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư phát biểu tại hội thảo. Ảnh: KS.

Để hiện thực hóa lộ trình này, ông Hùng đề nghị hội thảo tập trung thảo luận sâu vào việc tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để sửa đổi các quy định pháp luật hiện hành. Trong đó, cần đặc biệt đánh giá lại mô hình tổ chức của các khu bảo tồn, vườn quốc gia và mạnh dạn đề xuất thí điểm giao cho các đơn vị ngoài công lập hoặc doanh nghiệp lớn tham gia vận hành.

Về nội dung này, từ thực tiễn địa phương, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cho biết, tỉnh đã giao quản lý khu bảo tồn biển cho Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử. Đây là mô hình tận dụng được đội ngũ chuyên môn, lực lượng tuần tra sẵn có và đặc biệt là cơ chế tự chủ tài chính vững mạnh để vận hành hiệu quả.

Bên cạnh đó, bà Bùi Thị Thu Hiền - Quản lý Chương trình Biển và Tài nguyên vùng bờ của IUCN Việt Nam - chỉ rõ, sự thành công trong việc thực thi bảo tồn biển không thể tách rời vai trò của chính quyền địa phương. Trong đó, UBND cấp tỉnh giữ vai trò quyết định trong việc phê duyệt các kế hoạch quản lý và phân bổ ngân sách.

Các "điểm nghẽn" về tài chính và thẩm quyền thực thi pháp luật hiện là thách thức lớn nhất. Lực lượng tại các khu bảo tồn biển đang gặp khó khăn khi không có thẩm quyền tạm giữ phương tiện vi phạm, trong khi ngân sách cho hoạt động tuần tra biển lại thiếu hụt và chưa có định mức chi phù hợp với đặc thù thực địa.

Bà Bùi Thị Thu Hiền, đại diện IUCN Việt Nam. Ảnh: KS.

Để nâng cao hiệu quả, đại diện IUCN Việt Nam đề xuất cần sớm hoàn thiện các cơ chế tài chính bền vững như thu phí tham quan và thí điểm chi trả dịch vụ hệ sinh thái biển. Cũng như việc xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng biên phòng, kiểm ngư và chính quyền các cấp. Đồng thời, cần đẩy mạnh mô hình đồng quản lý để trao quyền cho cộng đồng ngư dân địa phương, giúp họ cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ và hưởng lợi từ nguồn lợi biển bền vững.

Kinh nghiệm từ Quảng Ninh cũng cho thấy, sự đồng thuận của cộng đồng chính là chìa khóa. Người dân sẽ ủng hộ tuyệt đối khi họ thấy được lợi ích lâu dài và được hỗ trợ các phương án chuyển đổi sinh kế rõ ràng như du lịch sinh thái hay nuôi biển bền vững bằng vật liệu thân thiện môi trường.

 

Nỗ lực vì mục tiêu bảo tồn biển quốc gia

Đại diện tỉnh Khánh Hòa, ông Nguyễn Trọng Chánh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hội thảo được tổ chức trong bối cảnh hết sức ý nghĩa khi Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, trọng tâm là bảo tồn hệ sinh thái biển. Ông khẳng định Khánh Hòa sở hữu vị trí chiến lược với nguồn tài nguyên biển phong phú, bao gồm các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển và các vùng sinh sản tự nhiên của nhiều loài thủy sinh giá trị. Vịnh Nha Trang cùng hệ sinh thái biển thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa – Phước Bình chính là những vùng nòng cốt, giúp hình thành và kết nối mạng lưới bảo tồn biển liên vùng khu vực Nam Trung bộ.

Khu bảo tồn biển Hòn Mun nằm trong vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: KS.

Tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ việc củng cố bộ máy quản lý đến thực hiện các mô hình đồng quản lý và phát triển sinh kế bền vững cho người dân. Đặc biệt, sự phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường với Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng (MCD) đã mang lại những tác động tích cực trong việc nâng cao năng lực cho cộng đồng địa phương, giúp người dân tham gia trực tiếp và hiệu quả hơn vào công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

Hướng tới tương lai, tỉnh Khánh Hòa đang tập trung triển khai Đề án quản lý và bảo vệ hệ sinh thái biển, tích cực đóng góp vào lộ trình chung để nâng diện tích bảo tồn biển đạt 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Các nhóm giải pháp trọng tâm sẽ bao gồm mở rộng mạng lưới bảo tồn tích hợp; phục hồi các rạn san hô và thảm cỏ biển bị suy thoái; kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác ven bờ và du lịch; hỗ trợ cộng đồng chuyển đổi nghề nghiệp bền vững; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát.

Bên cạnh nỗ lực nội tại, theo báo cáo của nhóm tư vấn UNDP, tính đến năm 2024, hệ thống các khu bảo tồn biển trên toàn cầu đã phát triển rất đa dạng với 16.953 khu vực. Nhóm tư vấn đề xuất Việt Nam cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá hiệu quả quản lý dựa trên việc kế thừa các tiêu chuẩn quốc tế nhưng phải điều chỉnh để phù hợp với thực tế và quy định pháp luật trong nước. Bộ chỉ số này cần đảm bảo các nguyên tắc khoa học, dễ áp dụng và phản ánh chính xác các khía cạnh đặc trưng về kinh tế, xã hội và môi trường của các khu bảo tồn biển tại Việt Nam.

 

 

Kim Sơ/Báo NNMT

Ý kiến

Gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững

Gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững

Trong bối cảnh áp lực khai thác tài nguyên, suy thoái môi trường và rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, các khu bảo tồn biển ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một công cụ bảo tồn, mà còn là một thiết chế quản trị quan trọng để duy trì chức năng sinh thái, hỗ trợ quản lý nghề cá bền vững và bảo vệ nền tảng tự nhiên cho phát triển dài hạn...
Hướng đến mô hình kinh tế biển xanh, bền vững

Hướng đến mô hình kinh tế biển xanh, bền vững

Tỉnh Ninh Bình có đường bờ biển dài 89,45 km cùng hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, đầm lầy, năm cửa sông lớn với nguồn lợi thủy sản phong phú, có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản, làm muối, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Cục Biển và Hải đảo Việt Nam - GIZ: định hướng hợp tác trong giai đoạn mới

Sáng 21/4, tại Hà Nội, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam làm việc với đoàn công tác Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) nhằm trao đổi, định hướng hợp tác trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030.