Sign In

Năng lượng biển mở động lực tăng trưởng xanh

10:31 26/05/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ tạo nguồn điện sạch quy mô lớn mà còn mở ra không gian tăng trưởng mới cho kinh tế biển Việt Nam.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để hình thành ngành công nghiệp năng lượng biển hiện đại, trong đó điện gió ngoài khơi được xem là “trụ cột” của kinh tế biển xanh. Xung quanh tiềm năng, cơ hội và những điểm nghẽn cần tháo gỡ cho lĩnh vực này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Theo TS. Dư Văn Toán, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi cần xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án năng lượng tái tạo biển, như miễn hoặc giảm phí sử dụng khu vực biển trong những năm đầu, hỗ trợ tín chỉ carbon và cho phép tham gia thị trường carbon trong nước cũng như quốc tế. Ảnh: Thái Bình.

Theo TS. Dư Văn Toán, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi cần xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án năng lượng tái tạo biển, như miễn hoặc giảm phí sử dụng khu vực biển trong những năm đầu, hỗ trợ tín chỉ carbon và cho phép tham gia thị trường carbon trong nước cũng như quốc tế. Ảnh: Thái Bình.

 

Cần cơ chế ưu đãi đặc thù cho dự án năng lượng biển

Ông đánh giá như thế nào về vai trò của năng lượng biển trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam?

- Năng lượng biển nói chung, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, đang giữ vai trò là động lực then chốt trong Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Đây không chỉ là nguồn năng lượng sạch thay thế nhiên liệu hóa thạch mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh, bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải carbon.

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.000km, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi rất lớn, nhất là khu vực phía nam với quy mô gần 500GW trên tổng số hơn 1.000GW toàn vùng biển. Nếu được khai thác hiệu quả, đây sẽ là nền tảng quan trọng để tái cơ cấu kinh tế biển theo hướng hiện đại, bền vững.

Đồng thời, phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi còn tạo động lực đầu tư hạ tầng cảng biển, logistics, dịch vụ kỹ thuật biển; mở ra nhiều việc làm chất lượng cao cho cư dân ven biển, từng bước chuyển đổi sinh kế từ những ngành nghề có nguy cơ tác động đến môi trường sang các ngành kinh tế xanh bền vững hơn.

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Việt Nam đã đạt được những kết quả gì trong phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi?

- Sau gần một thập kỷ triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW, Việt Nam bước đầu hình thành ngành công nghiệp năng lượng tái tạo ngoài khơi, trở thành điểm sáng đáng chú ý của khu vực Đông Nam Á.

Nhiều dự án điện gió ven bờ đã đi vào vận hành, tạo nền tảng kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn cho giai đoạn phát triển quy mô lớn hơn. Đặc biệt, Quy hoạch điện VIII đã xác định rõ mục tiêu phát triển 6.000MW điện gió ngoài khơi vào năm 2030, tăng lên khoảng 15GW vào năm 2035 và hướng tới 139GW vào năm 2050.

Nếu hiện thực hóa được mục tiêu này, Việt Nam có thể nằm trong nhóm 5 quốc gia sở hữu công suất điện gió ngoài khơi nối lưới lớn nhất thế giới.

Theo ông, những “điểm nghẽn” lớn nhất về pháp lý và cơ chế đang cản trở phát triển năng lượng biển hiện nay là gì?

- Hiện nay, phát triển năng lượng biển, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, vẫn đang gặp nhiều vướng mắc cả về pháp lý lẫn cơ chế thực thi.

Trước hết là sự chồng chéo giữa các luật như Luật Điện lực, Luật Đầu tư, Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Quy hoạch… khiến thủ tục triển khai dự án kéo dài. Việt Nam cũng chưa có quy trình rõ ràng về giao khu vực biển để khảo sát cho doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài.

Bên cạnh đó, cơ chế giá điện dài hạn hay cơ chế đấu thầu cho điện gió ngoài khơi chưa thực sự rõ ràng, làm gia tăng rủi ro tài chính, khiến nhiều ngân hàng và nhà đầu tư còn dè dặt.

Một điểm nghẽn khác là hạ tầng truyền tải từ biển vào bờ chưa có cơ chế đầu tư đồng bộ. Điều này khiến nhà đầu tư lo ngại về khả năng giải tỏa công suất khi dự án hoàn thành.

Ngoài ra, hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ cho điện gió ngoài khơi còn thiếu, từ dịch vụ khảo sát, chế tạo, lắp đặt đến nhân lực chất lượng cao. Việt Nam hiện chưa có trung tâm đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu mang tầm quốc gia về lĩnh vực này.

Theo ông, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cần bổ sung những nội dung gì để thúc đẩy kinh tế biển xanh?

- Theo tôi, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi cần bổ sung mạnh hơn các quy định về quy hoạch không gian biển quốc gia, đặc biệt là không gian dành cho điện gió ngoài khơi, cáp điện ngầm và các công trình hạ tầng hỗ trợ.

Song song với đó, cần xây dựng cơ chế ưu đãi đặc thù cho các dự án năng lượng tái tạo biển, như miễn hoặc giảm phí sử dụng khu vực biển trong những năm đầu, hỗ trợ tín chỉ carbon và cho phép tham gia thị trường carbon trong nước cũng như quốc tế.

Đây sẽ là cơ sở quan trọng để thúc đẩy kinh tế biển xanh, đồng thời hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam.

Nếu thu hút được khoảng 3-4GW điện gió ngoài khơi mỗi năm, với suất đầu tư khoảng 3 tỷ USD cho mỗi GW, dòng vốn FDI vào lĩnh vực này có thể đạt gần 10 tỷ USD/năm. Ảnh: Tùng Đinh.

Việt Nam cần làm gì để hài hòa giữa phát triển điện gió ngoài khơi với bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế ngư dân?

- Muốn phát triển điện gió ngoài khơi bền vững, Việt Nam cần tiếp cận theo hướng đa chiều, kết hợp giữa quy hoạch khoa học, hành lang pháp lý chặt chẽ và sự tham gia thực chất của cộng đồng địa phương.

Các dự án nên được quy hoạch xa bờ hơn, tránh chồng lấn với ngư trường truyền thống, khu vực có rạn san hô, thảm cỏ biển hay khu bảo tồn biển. Đặc biệt, cần hạn chế triển khai trong vùng ven bờ dưới 6 hải lý - nơi tập trung mật độ khai thác thủy sản cao.

Cùng với đó, công tác đánh giá tác động môi trường và tác động xã hội phải được thực hiện nghiêm túc, minh bạch ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.

Động lực mới cho kinh tế biển 

Ông đánh giá thế nào về tiềm năng thu hút đầu tư quốc tế vào lĩnh vực năng lượng biển của Việt Nam?

- Tiềm năng thu hút đầu tư quốc tế vào năng lượng biển của Việt Nam là rất lớn. Với đường bờ biển dài hơn 3.260km, tốc độ gió thuận lợi cùng cam kết Net Zero vào năm 2050, Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư lớn đến từ châu Âu (UK, Đức, Na Uy, Pháp, Hà Lan, Bỉ..), Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc cũng như các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB hay IMF.

Nếu thu hút được khoảng 3-4GW điện gió ngoài khơi mỗi năm, với suất đầu tư khoảng 3 tỷ USD cho mỗi GW, dòng vốn FDI vào lĩnh vực này có thể đạt gần 10 tỷ USD/năm. Đây sẽ là nguồn lực rất quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia trong dài hạn.

Việt Nam có thể học hỏi những kinh nghiệm quốc tế nào trong khai thác và quản trị tài nguyên năng lượng biển?

- Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia đi trước trong quy hoạch và quản trị không gian biển bền vững như Na Uy, Đức hay Trung Quốc.

Trong khi đó, Đan Mạch, Hà Lan và Anh là những mô hình tiêu biểu về phát triển hệ sinh thái công nghiệp điện gió ngoài khơi, từ công nghệ, cảng biển, chuỗi cung ứng đến đào tạo nhân lực.

Một kinh nghiệm rất đáng chú ý là cơ chế “một cửa” trong cấp phép dự án mà Đan Mạch và Nhật Bản đang áp dụng. Cách làm này giúp nhà đầu tư chỉ cần làm việc với một đầu mối duy nhất, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án.

Các Đảo năng lượng nhân tạo từ 5GW đến 10 GW gồm Hệ sinh thái điện gió ngoài khơi và sản xuất hydro xanh. Đang thử nghiệm mô hình đảo năng lượng nhân tạo tại biển Đan Mạch, Hà Lan dùng để xuất khẩu điện hay nhiên liệu cho các quốc gia khác.

Ngoài ra, Việt Nam cũng nên nghiên cứu xây dựng luật riêng về điện gió ngoài khơi như nhiều quốc gia đã thực hiện, đồng thời đẩy mạnh quản trị biển thông minh dựa trên dữ liệu số, AI và hệ thống giám sát môi trường theo thời gian thực.

Theo ông, phát triển năng lượng biển sẽ tạo ra động lực mới ra sao cho tăng trưởng kinh tế ven biển thời gian tới?

- Phát triển năng lượng biển, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, có thể xem là một ngành công nghiệp biển mới với quy mô vốn hóa rất lớn, ước tính lên tới khoảng 400 tỷ USD vào năm 2050, hàng năm có thể tên 10 tỷ USD, giúp vốn đầu tư khoảng 10% GDP hàng năm.

Đây sẽ là động lực tăng trưởng chiến lược cho kinh tế biển Việt Nam trong tương lai, không chỉ tạo ra nguồn điện sạch quy mô lớn mà còn thúc đẩy phát triển hạ tầng cảng biển, dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi, logistics biển và nhiều ngành công nghiệp phụ trợ khác.

Quan trọng hơn, lĩnh vực này sẽ góp phần định hình mô hình kinh tế biển xanh, hiện đại và bền vững, đưa Việt Nam tiến gần hơn mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển trong những thập niên tới.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

 

Trường Giang

Ý kiến

Gia Lai hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam

Ngày 24/5, hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới, Gia Lai tổ chức phát động dọn vệ sinh bãi biển phường Quy Nhơn Đông.
Đào tạo nhân lực nòng cốt cho chiến lược phát triển kinh tế biển xanh

Đào tạo nhân lực nòng cốt cho chiến lược phát triển kinh tế biển xanh

Khóa đào tạo giảng viên nguồn về quy hoạch không gian biển và kinh tế biển bền vững tại Hải Phòng góp phần hình thành đội ngũ nhân lực nòng cốt, thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển xanh và quản trị biển hiện đại tại Việt Nam.

Festival Biển Khánh Hòa năm 2026 được tổ chức với quy mô cấp quốc gia với chủ đề “Sắc màu đại dương - Vươn tầm quốc tế”

Festival Biển Khánh Hòa 2026 dự kiến diễn ra từ ngày 17 đến 19/7/2026 với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật và du lịch quy mô lớn tại Quảng trường 2 tháng 4, phường Nha Trang và một số địa điểm khác trên địa bàn tỉnh.