Cơ sở dữ liệu đồng bộ, chính xác và có khả năng kết nối, chia sẻ là nền tảng quan trọng phục vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường. Việc thống nhất quy trình xây dựng, xác định định mức kinh tế - kỹ thuật và kiểm soát chất lượng sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, bảo đảm dữ liệu được tổ chức khoa học, đáp ứng yêu cầu quản lý và khai thác, sử dụng.

Ngày 12/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Văn bản hợp nhất số 93/2026/VBHN-TT-BNNMT, hợp nhất quy định về Quy trình và Định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường.
Văn bản hợp nhất nội dung Thông tư số 26/2014/TT-BTNMT ngày 28/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quyết định số 2814/QĐ-BTNMT ngày 2/11/2015 về đính chính và các nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan tại Thông tư số 14/2020/TT-BTNMT ngày 27/11/2020.
Với hệ thống quy định về phạm vi áp dụng, quy trình kỹ thuật, định mức lao động, vật tư, thiết bị và các yêu cầu đối với sản phẩm, văn bản là tài liệu quan trọng để các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường, bảo đảm thống nhất trong quá trình triển khai.
Thống nhất căn cứ lập dự toán, nâng cao hiệu quả đầu tư dữ liệu
Theo quy định tại văn bản hợp nhất, định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường là căn cứ để xây dựng đơn giá, dự toán kinh phí đối với các nhiệm vụ xây dựng mới, cập nhật, nâng cấp cơ sở dữ liệu và ứng dụng phần mềm hỗ trợ quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu.
Định mức áp dụng đối với các công ty nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện công việc xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường, ứng dụng phần mềm hỗ trợ quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đáng chú ý, hệ thống định mức không chỉ xác định khối lượng lao động cần thiết mà còn quy định các yếu tố phục vụ tổ chức thực hiện công việc, gồm nội dung công việc, phân loại khó khăn, định biên lao động và thời gian thực hiện. Định mức lao động công nghệ được xác định trên cơ sở thời gian lao động trực tiếp cần thiết để thực hiện một bước công việc hoặc tạo ra một sản phẩm theo quy định.
Bên cạnh đó, định mức vật tư và thiết bị bao gồm mức sử dụng vật liệu, dụng cụ, thiết bị và các yếu tố liên quan đến tiêu hao trong quá trình thực hiện. Văn bản quy định ngày công tính bằng 8 giờ làm việc, một tháng làm việc 26 ngày; ca sử dụng dụng cụ, thiết bị được tính bằng 8 giờ làm việc.
Việc xác định cụ thể các thành phần định mức tạo cơ sở cho công tác lập dự toán, tổ chức nhân lực, bố trí thiết bị và quản lý chi phí. Qua đó, các đơn vị có căn cứ thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu kỹ thuật, đồng thời thuận lợi hơn trong kiểm tra khối lượng, chất lượng và nghiệm thu sản phẩm.
Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu được triển khai theo các bước chặt chẽ
Một nội dung trọng tâm của văn bản hợp nhất là quy định quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường từ khâu rà soát thông tin đầu vào đến kiểm tra, nghiệm thu và bàn giao sản phẩm.
Theo đó, dữ liệu phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu được hình thành từ kết quả điều tra cơ bản của các lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã được kiểm tra, nghiệm thu, lưu trữ tại cơ quan chuyên môn dưới một hoặc nhiều khuôn dạng khác nhau. Công tác khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu được thực hiện theo các quy định hiện hành tương ứng.
Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu gồm các bước chủ yếu:
Thứ nhất, rà soát, phân tích nội dung thông tin, dữ liệu. Các đơn vị thực hiện rà soát, đánh giá, phân loại dữ liệu đã được chuẩn hóa và chưa được chuẩn hóa; chuẩn bị dữ liệu mẫu; xác định danh mục đối tượng quản lý, thông tin chi tiết của từng đối tượng, mối quan hệ giữa các đối tượng, tài liệu cần quét hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu, đồng thời xác định khung danh mục dữ liệu và siêu dữ liệu.
Đây là bước quan trọng nhằm xác định rõ hiện trạng dữ liệu, phạm vi công việc, các yếu tố ảnh hưởng và yêu cầu kỹ thuật trước khi thiết kế, triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu.
Thứ hai, thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu. Trên cơ sở kết quả rà soát, phân tích, đơn vị thực hiện thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu, mô hình danh mục dữ liệu và siêu dữ liệu theo chuẩn dữ liệu, khung dữ liệu phù hợp. Việc nhập dữ liệu mẫu để kiểm tra mô hình giúp đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu trước khi tổ chức tạo lập dữ liệu trên quy mô đầy đủ.
Thứ ba, tạo lập dữ liệu cho danh mục dữ liệu và siêu dữ liệu. Nội dung danh mục dữ liệu, siêu dữ liệu được xây dựng dựa trên kết quả rà soát, phân tích và thiết kế. Siêu dữ liệu có vai trò mô tả các đặc tính của dữ liệu như nội dung, định dạng, chất lượng, điều kiện tiếp cận, cơ quan quản lý, địa chỉ truy cập và nơi lưu trữ, bảo quản. Đây là cơ sở hỗ trợ tìm kiếm, nhận biết, quản lý và khai thác dữ liệu hiệu quả hơn.
Thứ tư, tạo lập dữ liệu cho cơ sở dữ liệu. Công việc gồm chuyển đổi dữ liệu số đã được chuẩn hóa; quét hoặc chụp tài liệu để đính kèm vào các trường thông tin; nhập dữ liệu từ tài liệu dạng giấy và thực hiện đối soát dữ liệu. Đối với dữ liệu không gian chưa được chuẩn hóa, việc chuẩn hóa phải tuân thủ quy định chuyên ngành trước khi chuyển đổi vào cơ sở dữ liệu. Dữ liệu phi không gian được chuẩn hóa theo mô hình cơ sở dữ liệu đã thiết kế.
Đặc biệt, văn bản yêu cầu dữ liệu sau khi nhập phải được đối chiếu, kiểm soát nhằm bảo đảm tính chính xác, phục vụ yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước. Các vấn đề phát sinh trong quá trình nhập dữ liệu cũng phải được ghi nhận, báo cáo theo quy định.
Thứ năm, biên tập dữ liệu. Đối với dữ liệu không gian, công việc bao gồm tuyên bố đối tượng, sửa lỗi tương quan không gian theo quy tắc topology và trình bày hiển thị dữ liệu. Đối với dữ liệu phi không gian, nội dung được hiệu đính để bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý và mô hình đã thiết kế.
Thứ sáu, kiểm tra sản phẩm. Cơ sở dữ liệu được kiểm tra về mô hình, nội dung dữ liệu không gian, dữ liệu phi không gian, danh mục dữ liệu và siêu dữ liệu. Mục tiêu là bảo đảm sản phẩm đầy đủ, chính xác và phù hợp với nội dung đã được phê duyệt. Kết quả kiểm tra, sửa chữa và nghiệm thu chất lượng, khối lượng được lập thành hồ sơ theo các mẫu biểu tương ứng.
Thứ bảy, phục vụ nghiệm thu và giao nộp sản phẩm. Sau khi hoàn thành kiểm tra, đơn vị thực hiện lập báo cáo tổng kết nhiệm vụ, hoàn thiện hồ sơ nghiệm thu, đóng gói sản phẩm dạng giấy và dạng số, lập biên bản bàn giao và chuyển giao sản phẩm cho đơn vị sử dụng, đơn vị chuyên trách công nghệ thông tin theo phân cấp, quy định quản lý.
Trình tự này thể hiện yêu cầu quản lý xuyên suốt đối với toàn bộ vòng đời tạo lập dữ liệu, từ chuẩn bị đầu vào, thiết kế, xây dựng, biên tập đến kiểm tra và bàn giao, hạn chế tình trạng dữ liệu thiếu đồng bộ, sai lệch hoặc khó khai thác sau khi hoàn thành dự án.
Định mức kinh tế - kỹ thuật gắn với đặc thù từng lĩnh vực
Bên cạnh quy trình kỹ thuật, văn bản hợp nhất quy định hệ thống định mức cho từng nhóm công việc, gồm rà soát và phân tích thông tin, thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu, tạo lập danh mục dữ liệu và siêu dữ liệu, chuyển đổi dữ liệu, quét tài liệu, nhập và đối soát dữ liệu, biên tập, kiểm tra sản phẩm, nghiệm thu và giao nộp.
Định mức được xây dựng theo nội dung công việc, đơn vị tính, định biên lao động, mức độ khó khăn và yêu cầu sử dụng vật tư, thiết bị. Đối với các công việc có phân loại khó khăn, việc xác định mức được thực hiện theo những yếu tố ảnh hưởng được quy định tại từng bước công việc.
Đối với bước phân tích nội dung thông tin, dữ liệu, các yếu tố ảnh hưởng gồm số lượng đối tượng quản lý và đặc thù lĩnh vực. Tổng điểm của các yếu tố là căn cứ xác định loại khó khăn KK1, KK2 hoặc KK3. Việc phân loại này giúp phản ánh sự khác biệt về khối lượng, mức độ phức tạp và yêu cầu kỹ thuật giữa các nhiệm vụ, thay vì áp dụng một mức định mức đồng nhất cho mọi trường hợp.
Văn bản cũng quy định các bảng phân loại hạng mục công việc theo lĩnh vực, làm căn cứ nhận diện đặc thù chuyên môn khi xác định định mức. Các lĩnh vực được đề cập gồm quản lý đất đai; biển và hải đảo; môi trường; đo đạc và bản đồ; địa chất và khoáng sản; tài nguyên nước; khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu; viễn thám.
Việc gắn định mức với đặc thù từng lĩnh vực có ý nghĩa thiết thực trong lập dự toán và tổ chức triển khai nhiệm vụ. Các cơ quan, đơn vị có thể căn cứ vào loại dữ liệu, số lượng đối tượng quản lý, yêu cầu kỹ thuật và mức độ khó khăn để xác định khối lượng công việc, nhân lực, vật tư và thiết bị cần thiết.
Cơ sở dữ liệu biển và hải đảo: Phục vụ quản lý tổng hợp không gian biển
Đối với lĩnh vực biển và hải đảo, phụ lục của văn bản hợp nhất đưa ra bảng phân loại các hạng mục công việc theo đặc thù lĩnh vực, bao gồm nhiều nhóm dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường và hoạt động trên biển.
Các hạng mục được nêu gồm hải đồ đảo Việt Nam; dữ liệu hệ thống vũng, vịnh ven bờ; bản đồ địa hình đáy biển; bộ dữ liệu về môi trường biển ven bờ; dữ liệu kinh tế - xã hội biển; dữ liệu về tài nguyên sinh vật biển và hải đảo; dữ liệu ranh giới biển Việt Nam; dữ liệu khí tượng thủy văn biển; dữ liệu địa chất, khoáng sản biển; dữ liệu dầu khí; dữ liệu môi trường biển; dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên vị thế và kỳ quan sinh thái biển; dữ liệu phục vụ các nhiệm vụ kinh tế - kỹ thuật và quốc phòng, an ninh trên biển, thềm lục địa; dữ liệu hệ thống cửa sông, đê biển; dữ liệu thiên tai biển Việt Nam; dữ liệu giao thông vận tải biển; thông tin từ các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học, công nghệ biển và dữ liệu các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá.
Danh mục này cho thấy phạm vi dữ liệu biển và hải đảo có tính đa dạng, liên ngành, bao gồm cả dữ liệu không gian, dữ liệu chuyên ngành, dữ liệu điều kiện tự nhiên và dữ liệu phục vụ các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên biển.
Đối với từng hạng mục, bảng phân loại xác định mức độ đặc thù lĩnh vực theo các nhóm dễ, trung bình và khó. Đây là cơ sở để áp dụng việc phân loại, xác định định mức phù hợp với yêu cầu chuyên môn của từng nhóm dữ liệu.
Trong bối cảnh yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, việc xây dựng cơ sở dữ liệu theo quy trình thống nhất có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tổ chức, lưu trữ, kết nối và khai thác thông tin. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, có cấu trúc và được mô tả đầy đủ, cơ quan quản lý có điều kiện thuận lợi hơn trong tra cứu, tổng hợp thông tin, theo dõi diễn biến tài nguyên, môi trường và phục vụ các nhiệm vụ chuyên môn.
Đối với các cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu biển và hải đảo, việc nghiên cứu kỹ quy trình, biểu mẫu và bảng phân loại hạng mục công việc là cần thiết để bảo đảm lập dự toán đúng căn cứ, xác định đầy đủ khối lượng, tổ chức thực hiện phù hợp và nâng cao chất lượng sản phẩm bàn giao.
Đưa dữ liệu vào hệ thống thông tin, phục vụ quản lý và khai thác
Văn bản hợp nhất không dừng ở yêu cầu xây dựng và nghiệm thu cơ sở dữ liệu thành phần mà còn quy định việc xử lý, tổng hợp cơ sở dữ liệu theo yêu cầu quản lý.
Theo đó, sau khi hoàn thành và được giao nộp, sản phẩm cơ sở dữ liệu phải được quản lý, lưu trữ tại cơ quan, đơn vị có chức năng tiếp nhận thông tin thuộc cơ quan quản lý nhà nước chuyên môn; đồng thời được đưa vào hệ thống thông tin ngành tài nguyên và môi trường, trừ tài liệu mật có quy định riêng, để cung cấp dịch vụ thông tin trên cổng thông tin điện tử của Bộ theo quy định.
Quy trình xử lý, tổng hợp cơ sở dữ liệu được thực hiện trên cơ sở yêu cầu tích hợp dữ liệu và các sản phẩm đã được nghiệm thu, giao nộp. Các bước chính gồm rà soát, xử lý những vấn đề về dữ liệu trước khi tổng hợp; cấu hình kết nối giữa các cơ sở dữ liệu và thực hiện tổng hợp; kiểm tra kết quả xử lý, tổng hợp trước khi đưa vào hệ thống thông tin ngành tài nguyên và môi trường.
Sản phẩm của quá trình này gồm cơ sở dữ liệu đã được tổng hợp, danh mục dữ liệu phục vụ cung cấp dịch vụ thông tin và biên bản kiểm tra xử lý, tổng hợp cơ sở dữ liệu theo mẫu quy định.
Việc đưa dữ liệu vào hệ thống thông tin ngành tạo điều kiện phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực, đồng thời đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức và cá nhân cho mục đích phát triển kinh tế - xã hội, an sinh xã hội theo quy định.
Đối với lĩnh vực biển và hải đảo, yêu cầu này có ý nghĩa trong việc nâng cao khả năng sử dụng dữ liệu chuyên ngành, hỗ trợ trao đổi thông tin giữa các cơ quan, đơn vị và phục vụ công tác quản lý trên cơ sở dữ liệu được tổ chức, kiểm tra, tổng hợp theo quy trình thống nhất.
Tăng cường trách nhiệm trong tổ chức thực hiện
Để các quy định được triển khai hiệu quả, các cơ quan, đơn vị cần chú trọng nghiên cứu đầy đủ nội dung văn bản hợp nhất và các phụ lục, biểu mẫu đi kèm; xác định đúng phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, yêu cầu kỹ thuật và định mức áp dụng cho từng nhiệm vụ.
Trong quá trình triển khai, cần bảo đảm dữ liệu đầu vào có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm tra, nghiệm thu theo quy định; việc chuẩn hóa, chuyển đổi, nhập và đối soát dữ liệu phải được thực hiện theo đúng mô hình đã thiết kế. Công tác kiểm tra sản phẩm cần được tiến hành thực chất, bao quát cả cấu trúc, nội dung, dữ liệu không gian, dữ liệu phi không gian, danh mục dữ liệu và siêu dữ liệu.
Cùng với đó, việc lập hồ sơ nghiệm thu, biên bản bàn giao và tổ chức lưu trữ sản phẩm phải được thực hiện đầy đủ, bảo đảm khả năng tiếp nhận, quản lý và khai thác sau khi kết thúc nhiệm vụ. Đối với các cơ sở dữ liệu có yêu cầu tích hợp, cần chú trọng khả năng kết nối và tính thống nhất của dữ liệu để phục vụ tổng hợp vào hệ thống thông tin ngành.
Văn bản hợp nhất số 93/2026/VBHN-TT-BNNMT là tài liệu tập hợp các quy định về quy trình và định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường đã được ban hành, đính chính, sửa đổi, bổ sung. Việc nghiên cứu, áp dụng đúng quy định góp phần thống nhất căn cứ chuyên môn trong lập dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra, nghiệm thu và bàn giao sản phẩm.
Đối với lĩnh vực biển và hải đảo, thực hiện tốt các yêu cầu này sẽ góp phần nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tăng cường hiệu quả quản lý, lưu trữ và khai thác thông tin, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo.