Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) hướng tới quản trị tổng hợp, khơi thông nguồn lực và bảo vệ bền vững không gian biển
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có Tờ trình số 9610/TTr-BNNMT trình Chính phủ về Dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi)
Dự thảo bổ sung cơ chế sử dụng chung, sử dụng đa mục đích khu vực biển, tổ chức không gian biển theo phạm vi, lớp, tầng không gian, thời gian và mục đích phù hợp. Ảnh: Trường Giang.Khơi thông nguồn lực từ không gian biển
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau 10 năm thực hiện, Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo năm 2015 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo, góp phần khai thác hợp lý tài nguyên, phát triển kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, việc triển khai Quy hoạch không gian biển quốc gia và sự xuất hiện của nhiều ngành kinh tế biển mới, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu quản trị biển hiện đại.
Một trong những khoảng trống lớn của pháp luật hiện hành là chưa hình thành đầy đủ chế định về quản lý, sử dụng không gian biển, giao, cho thuê và đăng ký khu vực biển ở cấp luật.
Các nguyên tắc, tiêu chí phân bố, điều phối không gian biển; cơ chế xử lý chồng lấn, xung đột; sử dụng chung, sử dụng đa mục đích; giao, cho thuê, đấu giá, thu hồi và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển chưa được quy định đầy đủ.
Thực tế, Quy hoạch không gian biển quốc gia đã xác định nhiều khu vực có thể được sử dụng cho nhiều ngành, lĩnh vực. Trong quá trình triển khai, đã phát sinh những yêu cầu phải hài hòa giữa phát triển điện gió ngoài khơi với hàng hải, dầu khí, nuôi trồng và khai thác thủy sản.
Đây là những vấn đề mới đặt ra yêu cầu phải chuyển từ cách quản lý phân tán theo từng ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển.
Dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều, trong đó Chương III về quản lý, sử dụng không gian biển là chương hoàn toàn mới.
Đáng chú ý, đến hết năm 2025, Trung ương đã giao khu vực biển với tổng diện tích hơn 376.777 ha, thu hơn 1.690 tỷ đồng tiền sử dụng khu vực biển. Ở các địa phương cũng đã có hàng nghìn khu vực biển được giao cho nhiều mục đích. Tuy nhiên, theo cơ quan soạn thảo, kết quả này vẫn khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế của không gian biển.
Do đó, Dự thảo Luật đã bổ sung 1 chương mới quy định về quản lý, sử dụng không gian biển; đồng thời bổ sung một cách tiếp cận mới về quyền sử dụng khu vực biển, trong đó quy định việc giao, cho thuê, đăng ký, đấu giá; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển; hồ sơ hải chính; chế độ tài chính; quyền, nghĩa vụ và các giao dịch như chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn, thế chấp. Việc chuyển mục đích sử dụng, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ cũng được đặt trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung cơ chế sử dụng chung, sử dụng đa mục đích khu vực biển, tổ chức không gian biển theo phạm vi, lớp, tầng không gian, thời gian và mục đích phù hợp. Cách tiếp cận này nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời hạn chế xung đột giữa các hoạt động trên biển.
Đối với đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, dự thảo không tiếp cận đơn thuần theo tiêu chí giá. Chủ thể tham gia phải đáp ứng trước các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, công nghệ, tài chính, môi trường, an toàn hàng hải, quốc phòng và an ninh; sau đó mới thực hiện đấu giá.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quy định này nhằm lựa chọn được chủ thể vừa có năng lực thực hiện dự án, vừa sử dụng hiệu quả khu vực biển, bảo đảm các yêu cầu đặc thù về chủ quyền, quốc phòng, an ninh và môi trường.
Dự thảo cũng đồng thời bổ sung chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với các hoạt động kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, công nghệ cao; hạ tầng dùng chung, công trình lưỡng dụng, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tài chính biển xanh. Đây là một trong những điểm mới nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 20-NQ/TW, hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ biển
Cùng với yêu cầu khơi thông nguồn lực, dự thảo Luật đặt trọng tâm vào bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và sử dụng biển trong giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường.
Thực tiễn cho thấy ô nhiễm từ đất liền ra biển, rác thải biển, sự cố môi trường, ô nhiễm dầu, sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu, suy thoái hệ sinh thái và các rủi ro tại vùng bờ ngày càng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác quản lý.
Dự thảo dành một chương về bảo vệ môi trường biển và hải đảo, tập trung vào kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động trên biển, đất liền và xuyên biên giới; quản lý rác thải biển. Ảnh: Trung Chánh.Dự thảo dành một chương với 20 điều về bảo vệ môi trường biển và hải đảo, tập trung vào kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động trên biển, đất liền và xuyên biên giới; quản lý rác thải biển; phân vùng rủi ro; ứng phó sự cố; cải thiện, phục hồi môi trường; bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu và bảo tồn đa dạng sinh học biển.
Đồng thời, dự thảo hoàn thiện các quy định về điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia; thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đây là yêu cầu đáng chú ý trong bối cảnh đến nay điều tra tổng hợp tài nguyên biển mới thực hiện khoảng 38,7% diện tích vùng biển ở tỷ lệ 1:500.000, chưa đạt mục tiêu khoảng 50%. Nhiều khu vực biển sâu, biển xa còn thiếu dữ liệu điều tra cơ bản, làm gia tăng chi phí, rủi ro và hạn chế khả năng triển khai các dự án lớn.
Dự thảo hướng tới kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu, ứng dụng công nghệ số, viễn thám, quan trắc, giám sát và dự báo, tạo nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý cũng như phát triển kinh tế biển.
Một nội dung mới khác là cơ chế đánh giá tác động môi trường đối với một số hoạt động của tổ chức, cá nhân Việt Nam tại vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia có khả năng gây ô nhiễm hoặc tác động bất lợi đáng kể đến môi trường và đa dạng sinh học biển. Quy định này nhằm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam, trong đó có Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ).
Dự thảo cũng tiếp tục đề cao vai trò của cộng đồng cư dân ven biển, hải đảo thông qua quyền tiếp cận biển, tiếp cận thông tin, tham gia và giám sát quản lý tài nguyên, môi trường biển.
Một điểm đáng chú ý là cải cách thủ tục hành chính. Dự thảo duy trì 4 thủ tục hiện hành, đồng thời dự kiến bổ sung 8 thủ tục gắn với các chế định mới. Các thủ tục được thiết kế theo hướng tích hợp, liên thông, thực hiện trên môi trường điện tử, khai thác dữ liệu sẵn có và không yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Cùng với đó, dự thảo đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho địa phương, phù hợp mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Địa phương được giao những nhiệm vụ có khả năng thực hiện hiệu quả; Trung ương tập trung quản lý các vấn đề chiến lược, liên ngành, liên vùng, khu vực biển có ý nghĩa đặc biệt và những vấn đề liên quan quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền. Việc phân cấp đi cùng kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình, bảo đảm rõ cơ quan, rõ nhiệm vụ, rõ trách nhiệm và hạn chế chồng chéo.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường việc xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; tạo cơ sở pháp lý để quản trị biển hiện đại, phát huy hiệu quả nguồn lực từ biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.
8 quan điểm xây dựng dự án Luật:
Thứ nhất, bám sát, thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Nghị quyết số 20-NQ/TW; bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc, chủ quyền, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển bền vững làm yêu cầu xuyên suốt.
Thứ hai, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế; Luật chỉ quy định những nội dung thuộc thẩm quyền Quốc hội, ổn định, có giá trị lâu dài; giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung kỹ thuật, trình tự, thủ tục cần linh hoạt.
Thứ ba, kế thừa quy định còn phù hợp của Luật năm 2015; khắc phục vướng mắc đã được tổng kết, nhận diện; giải quyết “điểm nghẽn”, khoảng trống pháp lý và vấn đề mới, không làm thay đổi chế độ pháp lý của các vùng biển Việt Nam, không chồng chéo với quản lý chuyên ngành.
Thứ tư, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực biển; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, sinh kế và quyền tiếp cận biển của cộng đồng dân cư ven biển, hải đảo; giảm tiền kiểm, chi phí tuân thủ và cơ chế “xin - cho”.
Thứ năm, tăng cường phân quyền, phân cấp gắn với nguồn lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình; cải cách TTHC, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, không tạo thêm tầng nấc trung gian, TTHC không cần thiết.
Thứ sáu, quản lý, khai thác, sử dụng biển dựa trên hệ sinh thái, khoa học, công nghệ, dữ liệu số, giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải; ưu tiên phòng ngừa rủi ro, bảo vệ, phục hồi môi trường, phát triển kinh tế biển xanh, thông minh, tuần hoàn.
Thứ bảy, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phải có trọng tâm, trọng điểm, đúng đối tượng, phù hợp khả năng huy động nguồn lực và cân đối ngân sách nhà nước; có tiêu chí, giám sát, đánh giá, không hỗ trợ trùng lặp; đồng thời tạo dư địa thí điểm có kiểm soát đối với mô hình kinh tế mới.
Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia bằng cách lồng ghép các tiêu chí quốc phòng - an ninh - đối ngoại vào mọi khâu quản lý, từ khâu quy hoạch, phân vùng, giao, cho thuê, đăng ký khu vực biển cho đến tổ chức khai thác, sử dụng.