Với hơn 1.100ha rừng ngập mặn cùng hệ thống đê biển, Thanh Hóa đang từng bước hình thành lớp phòng hộ nhiều tầng trước thiên tai, biến đổi khí hậu. Những cánh rừng sú, vẹt kết hợp với các tuyến đê không chỉ tạo thành “lá chắn kép” mà còn mở ra không gian sinh kế bền vững cho người dân ven biển.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định rõ yêu cầu bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển. Trong đó, phục hồi và phát triển các vành đai sinh thái chắn sóng, chắn gió, rừng phòng hộ ven biển được xem là một trong những giải pháp quan trọng.
Thực tiễn tại Thanh Hóa cho thấy, định hướng này đang được cụ thể hóa bằng việc bảo vệ, mở rộng rừng ngập mặn gắn với củng cố hệ thống đê biển. Khi “bức tường xanh” phía ngoài kết hợp với công trình phòng hộ phía trong, vùng dân cư, đất sản xuất và sinh kế ven biển được bảo vệ theo nhiều tầng, đồng thời tạo nền tảng để phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, bền vững.
“Bức tường xanh” giữ sinh kế
Với 102 km bờ biển, Thanh Hóa là địa phương có không gian biển rộng lớn nhưng cũng chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu. Nước biển dâng, bão, triều cường, mưa lũ, xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tạo sức ép ngày càng lớn đối với khu dân cư, đất sản xuất và hệ sinh thái ven biển.
Trong bối cảnh đó, rừng ngập mặn đang phát huy vai trò như một “bức tường xanh”, góp phần giảm sức mạnh của sóng, hạn chế xói lở, giữ phù sa, bảo vệ đất và hỗ trợ duy trì cân bằng sinh thái. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh hiện có trên 1.100ha rừng ngập mặn.

Những cánh rừng ngập mặn trải rộng ven cửa sông, tạo thành vành đai xanh bảo vệ vùng ven biển Thanh Hóa
Đáng chú ý, từ năm 2015 đến nay, Thanh Hóa đã trồng mới 723,44 ha rừng ngập mặn, tập trung tại các địa bàn như Vạn Lộc, Tân Tiến, Hoằng Tiến, Hoằng Thanh... Cùng với trồng mới, công tác chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng được chú trọng, góp phần hình thành những vành đai sinh thái ven biển ngày càng rõ nét.
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, từ năm 2015, công tác khoán bảo vệ rừng ngập mặn được triển khai tại các địa bàn các huyện cũ Nga Sơn, Hậu Lộc và Hoằng Hóa với tổng diện tích 822ha. Diện tích được giao khoán được quản lý, bảo vệ tốt, không ghi nhận tình trạng phá rừng hoặc chuyển mục đích sử dụng rừng ngập mặn.
Ở xã Tân Tiến, những cánh rừng sú, vẹt trải dài phía ngoài đê không chỉ tạo nên cảnh quan xanh mà còn góp phần bảo vệ khu dân cư, đất sản xuất phía trong. Địa phương hiện có 278,67 ha rừng phòng hộ ngập mặn, hằng năm hợp đồng với các hộ dân để quản lý, trông coi và chăm sóc.
Ông Phạm Ngọc Luyến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Tiến, cho biết, diện tích rừng nằm phía ngoài tuyến đê biển tạo thêm một lớp phòng hộ tự nhiên. Khi được bảo vệ tốt, rừng giúp giảm tác động của sóng, gió, giữ phù sa, tạo bãi bồi và từng bước mở rộng không gian sinh thái ven biển. Hiệu quả của rừng không chỉ thể hiện qua khả năng phòng hộ. Bên dưới những tán sú, vẹt, bần chua, nơi nhiều loài tôm, cua, cá, ốc, cáy... cư trú và sinh sản, tạo nên nguồn lợi thủy sản dồi dào. Đây chính là nền tảng để người dân phát triển các mô hình sinh kế gắn với bảo vệ hệ sinh thái.

Anh Trần Văn Sửu bên những thùng nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn
Tại khu vực Nga Sơn và Tân Tiến, nuôi ong lấy mật dưới tán rừng ngập mặn trở thành một hướng đi đáng chú ý. Nguồn hoa tự nhiên phong phú từ rừng sú, vẹt cùng hệ sinh thái vùng cửa sông tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển nghề nuôi ong. Một số hộ duy trì hàng trăm đàn ong, sản lượng mật lên tới hàng tấn mỗi năm, đem lại nguồn thu đáng kể.
Gia đình anh Nguyễn Văn Sửu ở xã Nga Sơn là một ví dụ. Từ việc tận dụng nguồn hoa tự nhiên dưới tán rừng, gia đình phát triển gần 800 đàn ong, mỗi năm bán khoảng 13 tấn mật, doanh thu trên 200 triệu đồng. Sản phẩm được tiêu thụ cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
Theo người dân xã Tân Tiến, khi rừng được trồng và phục hồi, nhiều loài cá, tôm quay trở lại sinh sống, nguồn lợi thủy sản dồi dào hơn. Rừng không chỉ giúp địa phương phòng, chống thiên tai mà còn góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao thu nhập cho người dân. Những kết quả này cho thấy, nếu rừng được nhìn nhận không đơn thuần là diện tích cần bảo vệ mà là một phần của hệ sinh thái kinh tế ven biển, giá trị của rừng sẽ được nhân lên. Người dân vừa là đối tượng hưởng lợi, vừa trở thành lực lượng trực tiếp tham gia chăm sóc, bảo vệ tài nguyên.
Nguồn hoa tự nhiên phong phú từ rừng sú, vẹt cùng hệ sinh thái vùng cửa sông tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển nghề nuôi ongĐây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái; chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng và nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai.
Nghị quyết cũng xác định rõ việc phục hồi, phát triển các vành đai sinh thái chắn sóng, chắn gió, rừng phòng hộ ven biển; phòng, chống xói lở, bảo vệ đường bờ biển, địa hình tự nhiên, cảnh quan và không gian ven biển là một trong những nhiệm vụ quan trọng để tăng khả năng chống chịu của các địa phương ven biển.
Đê biển và rừng ngập mặn tạo “lá chắn kép”
Nếu rừng ngập mặn được ví như lớp phòng hộ mềm thì hệ thống đê biển, đê cửa sông chính là lớp phòng vệ công trình. Hai hệ thống này không tách rời mà bổ trợ cho nhau, tạo thành “lá chắn kép” bảo vệ dân cư, đất sản xuất và các hoạt động kinh tế trước tác động ngày càng phức tạp của biển.
Tại Tân Tiến, tuyến đê biển cấp IV dài 9,97 km, gồm tuyến đê biển cũ dài 6,5 km và tuyến đê biển mới dài 3,47km. Tuyến đê có nhiệm vụ bảo vệ khu dân cư, đất sản xuất và các hoạt động kinh tế phía trong trước tác động của nước biển, bão, triều cường và thiên tai.

Hệ thống đê, kênh dẫn nước và rừng ngập mặn tạo thành không gian phòng hộ nhiều tầng, đồng thời phục vụ sản xuất nông nghiệp và thủy sản
Trong điều kiện thời tiết cực đoan có xu hướng gia tăng, sức ép lên các công trình phòng, chống thiên tai cũng lớn hơn. Sạt lở, sóng lớn, mưa lũ và triều cường có thể tác động trực tiếp đến thân đê, đặc biệt tại các vị trí xung yếu. Nếu chỉ dựa vào công trình cứng mà thiếu lớp phòng hộ tự nhiên, chi phí duy tu, bảo vệ đê về lâu dài sẽ ngày càng lớn.
Ngược lại, một hệ thống rừng ngập mặn khỏe mạnh có thể làm giảm năng lượng của sóng trước khi sóng tiếp cận chân đê, giữ phù sa và hạn chế xói lở. Khi rừng phát triển, bãi bồi được hình thành, không gian phòng hộ tự nhiên được mở rộng. Đây là cơ chế bổ trợ quan trọng giữa giải pháp công trình và giải pháp dựa vào hệ sinh thái.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt yêu cầu phát triển đồng bộ hạ tầng biển, ven biển, đồng thời ưu tiên đầu tư nâng cấp hệ thống đê biển gắn với tuyến đường bộ ven biển, các công trình phòng, chống thiên tai, xâm nhập mặn; phục hồi và phát triển các vành đai sinh thái chắn sóng, chắn gió, rừng phòng hộ ven biển. Định hướng này đặc biệt có ý nghĩa đối với những địa phương như Thanh Hóa, nơi không gian dân cư, sản xuất nông nghiệp, thủy sản và các hoạt động kinh tế ven biển đan xen. Khi rừng và đê được quy hoạch, đầu tư, quản lý trong cùng một hệ thống phòng hộ, khả năng chống chịu của vùng ven biển sẽ được nâng lên theo hướng chủ động hơn.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định rõ yêu cầu bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển.
Ông Phạm Ngọc Luyến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Tiến cho biết, địa phương đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức phi chính phủ triển khai nhiều chương trình trồng rừng ngập mặn. Hiện thảm rừng ven biển phát triển nhanh, góp phần chắn sóng, giữ phù sa, gia tăng nguồn lợi thủy sản và tạo sinh kế cho người dân.
Cùng với đó, xã phối hợp với lực lượng Bộ đội Biên phòng và người dân chung tay bảo vệ rừng. Diện tích rừng được khoán cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư vừa giúp tạo thu nhập từ công chăm sóc, bảo vệ rừng, vừa hình thành trách nhiệm trực tiếp của người dân đối với tài nguyên ven biển.
Một số chương trình, dự án còn đầu tư đường giao thông, kênh mương thủy lợi tại các địa phương có rừng, vừa phục vụ trồng và bảo vệ rừng, vừa hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Như vậy, đầu tư cho rừng không chỉ tạo ra giá trị môi trường mà còn kéo theo những lợi ích kinh tế - xã hội lâu dài.
Từ thực tiễn Thanh Hóa có thể thấy, bảo vệ rừng ngập mặn và củng cố đê biển cần được đặt trong một tổng thể phát triển không gian ven biển. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đề ra. Nghị quyết xác định phát triển kinh tế biển phải gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân.
Trong tầm nhìn xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành nền tảng vững chắc về quản trị biển, bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái biển, phát triển kinh tế biển hiện đại, đồng thời nâng cao đời sống nhân dân vùng ven biển, hải đảo. Với Thanh Hóa, những cánh rừng sú, vẹt, bần chua bên ngoài các tuyến đê không chỉ là màu xanh của thiên nhiên. Đó còn là “vành đai” bảo vệ làng quê, là nơi tạo sinh kế và là một phần quan trọng giúp cộng đồng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu.