Sign In

Đánh thức tiềm năng biển bằng quản trị hiện đại

08:51 05/05/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Sau gần 10 năm triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW, kinh tế biển đạt kết quả bước đầu nhưng vẫn còn nhiều điểm nghẽn, đòi hỏi tư duy mới và đột phá mạnh mẽ hơn.

 

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Đại biểu Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam đã trao đổi thẳng thắn về những điểm nghẽn cần giải quyết sau gần một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (Nghị quyết 36).

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, ông nhìn nhận thế nào về mức độ khai thác tiềm năng biển của Việt Nam hiện nay?

- Nếu nhìn tổng thể, chúng ta đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Các ngành và địa phương ven biển đã tiếp tục khai thác các tiềm năng truyền thống như du lịch biển, đảo; phát triển hệ thống cảng biển và vận tải biển; khai thác và nuôi trồng thủy sản; thăm dò dầu khí và một số loại khoáng sản biển. Đặc biệt, nuôi biển đã có bước dịch chuyển từ ven bờ ra xa hơn, mở ra không gian phát triển mới.

Điều đáng nói là, bên cạnh những lĩnh vực truyền thống, chúng ta đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các giá trị mới của biển. Có thể kể đến năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển; tiềm năng bảo tồn biển gắn với phát triển sinh kế; đô thị biển; hay khai thác dược liệu từ sinh vật biển. Đây là những hướng đi phù hợp với xu thế phát triển bền vững của thế giới.

PGS, TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng, phát triển kinh tế biển không chỉ là câu chuyện của hôm nay, mà còn là trách nhiệm với các thế hệ mai sau. Ảnh: Quốc hội.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn rằng mức độ khai thác vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Ở một số nơi còn xuất hiện tình trạng “khai thác nóng”, thiếu kiểm soát, gây áp lực lên hệ sinh thái biển. Nhận thức về phát triển bền vững đã có chuyển biến, nhưng việc biến nhận thức thành hành động cụ thể, thành lợi ích kinh tế rõ ràng vẫn còn khoảng cách.

Vì sao kinh tế biển vẫn chưa đạt được quy mô và vị thế tương xứng?

- Có nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết phải nhìn vào khâu tổ chức thực hiện. Nghị quyết là đúng, mục tiêu rất rõ, nhưng cách triển khai ở nhiều nơi còn thiếu đổi mới. Một số ngành, địa phương chưa thực sự hiểu hết tinh thần nghị quyết, chưa cụ thể hóa thành các chương trình, dự án có tính khả thi cao.

Có tình trạng “đứng trước bài toán nhưng chưa biết giải như thế nào”. Tức là biết mục tiêu, nhưng không xác định rõ con đường đi tới mục tiêu đó. Điều này dẫn đến sự lúng túng, thậm chí dậm chân tại chỗ.

Một nguyên nhân quan trọng khác là sự chưa thống nhất trong cách hiểu về “kinh tế biển” điều này thể hiện rõ trong các báo cáo quy hoạch phát triển 28 tỉnh/thành phố (này là 21) ven biển/có biển. Nhiều địa phương khi xây dựng quy hoạch vẫn mô tả tiềm năng biển theo cách chung chung, mơ hồ, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Khi nền tảng nhận thức chưa rõ ràng thì rất khó để xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả.

Ngoài ra, ba khâu đột phá mà Nghị quyết 36 đã chỉ ra gồm thể chế, khoa học-công nghệ, nguồn nhân lực và hạ tầng tuy được xác định đúng, nhưng khi triển khai lại thiếu các giải pháp cụ thể, thiếu sản phẩm đầu ra rõ ràng. Tổ chức thực hiện đang là điểm nghẽn lớn.

Để tiến ra biển theo hướng kinh tế biển xanh, theo ông, cần vượt qua cách thách thức nào? 

- Chúng ta nói nhiều đến phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, nhưng để làm được điều đó thì phải có cách tiếp cận căn cơ. Phát triển không chỉ để tăng trưởng trước mắt, mà còn phải bảo đảm “vốn tự nhiên biển” không bị suy giảm. Nói cách khác, không thể đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng.

Trong khi đó, các phương thức quản lý hiện đại như quản lý tổng hợp biển và vùng bờ, quản lý theo không gian dựa vào hệ sinh thái đã được đề cập, nhưng việc áp dụng còn hình thức. Nguyên nhân là cơ chế phối hợp liên ngành chưa thực sự hiệu quả. Điều này dẫn đến xung đột lợi ích, chồng chéo trong sử dụng không gian biển. Ví dụ, một khu vực vừa quy hoạch cho nuôi trồng thủy sản, vừa cho phát triển du lịch, lại có thể liên quan đến bảo tồn, dẫn đến khó khăn trong triển khai.

Thêm vào đó, các công cụ như quy hoạch không gian biển, phân vùng chức năng biển chưa được thể chế hóa đầy đủ. Khi thiếu công cụ, việc quản lý sẽ thiếu hiệu lực và hiệu quả.

Bên cạnh những lĩnh vực biển truyền thống, Việt Nam đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các giá trị mới của biển. Ảnh: Tùng Đinh.

Ông đánh giá thế nào về việc áp dụng các công cụ thị trường trong phát triển kinh tế biển hiện nay?

- Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, các sản phẩm từ kinh tế biển của Việt Nam ngày càng phải đối mặt với những yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế. Không chỉ là thuế quan, mà còn là các hàng rào kỹ thuật, yêu cầu truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp của chúng ta vẫn chưa thực sự thích ứng tốt. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế còn hạn chế, dẫn đến gặp khó khăn trong xuất khẩu.

Một yếu tố rất quan trọng là công nghệ. Công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sản xuất và chất lượng sản phẩm trong kinh tế biển. Nếu không làm chủ được công nghệ, chúng ta sẽ bị tụt hậu.

Do đó, việc áp dụng công cụ thị trường đòi hỏi phải tái cấu trúc nền kinh tế biển theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại, vận hành theo chuỗi giá trị. Đồng thời, phải chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh, sạch, có trách nhiệm.

Bài học từ việc xử lý “thẻ vàng” IUU là một ví dụ điển hình, cho thấy nếu không đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, chúng ta sẽ phải trả giá.

Theo ông, nghị quyết mới về phát triển kinh tế biển cần tập trung vào những đột phá nào?

- Trước hết, nghị quyết mới cần kế thừa những gì đã làm được từ Nghị quyết 36, đồng thời khắc phục những hạn chế đã chỉ ra. Điều quan trọng là phải bám sát bối cảnh mới, tư duy mới về phát triển.

Chúng ta cần chuyển từ quản lý theo ngành sang quản lý theo không gian, dựa trên hệ sinh thái và có sự phối hợp liên ngành thực chất. Đây là chìa khóa để giải quyết các xung đột và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển.

Bên cạnh đó, cần ưu tiên phát triển công nghệ đại dương tiên tiến, từ quan trắc, dự báo đến khai thác, nuôi trồng và bảo tồn. Công nghệ sẽ quyết định giá trị gia tăng của sản phẩm biển.

Nguồn nhân lực cũng là yếu tố then chốt. Chúng ta cần một đội ngũ nhân lực biển có trình độ cao, chuyên nghiệp, có kỹ năng và tư duy hội nhập. Nếu không có con người phù hợp, mọi chính sách sẽ khó đi vào cuộc sống.

Cuối cùng, phải xây dựng được một nền kinh tế biển có trách nhiệm, gắn với bảo tồn, bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế biển không chỉ là câu chuyện của hôm nay, mà còn là trách nhiệm với các thế hệ mai sau.

Trân trọng cảm ơn ông!

 

 

Trường Giang (thực hiện)

Ý kiến

Tạo chuyển biến trong ngư dân về khai thác biển

Tạo chuyển biến trong ngư dân về khai thác biển

Tỉnh Cà Mau đang quyết tâm và hướng đến ngăn chặn, giảm thiểu và loại bỏ hoạt động khai thác IUU của tổ chức, cá nhân trên các vùng biển của tỉnh; chấm dứt tình trạng tàu cá, ngư dân tỉnh Cà Mau khai thác hải sản trái phép tại vùng biển nước ngoài; góp phần tháo gỡ cảnh báo thẻ vàng của EC, thúc đẩy phát triển nghề cá bền vững, có trách nhiệm, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, khu vực và hội nhập quốc tế.
Gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững

Gắn bảo tồn với phát triển kinh tế biển bền vững

Trong bối cảnh áp lực khai thác tài nguyên, suy thoái môi trường và rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, các khu bảo tồn biển ngày càng được nhìn nhận không chỉ như một công cụ bảo tồn, mà còn là một thiết chế quản trị quan trọng để duy trì chức năng sinh thái, hỗ trợ quản lý nghề cá bền vững và bảo vệ nền tảng tự nhiên cho phát triển dài hạn...
Hướng đến mô hình kinh tế biển xanh, bền vững

Hướng đến mô hình kinh tế biển xanh, bền vững

Tỉnh Ninh Bình có đường bờ biển dài 89,45 km cùng hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, đầm lầy, năm cửa sông lớn với nguồn lợi thủy sản phong phú, có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản, làm muối, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo và dịch vụ hậu cần nghề cá.