Sign In

Gỡ 'nút thắt' thể chế để Petrovietnam phát huy vai trò trụ cột kinh tế biển

09:19 06/04/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36, Petrovietnam khẳng định vai trò trụ cột kinh tế biển, song vẫn còn 'nút thắt' thể chế cần tháo gỡ để mở rộng dư địa phát triển.

 

Ngày 3/4, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 36) đã có buổi làm việc với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam).  Ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chủ trì cuộc họp.

Tham dự cuộc họp có ông Đặng Ngọc Điệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Lê Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam; lãnh đạo Petrovietnam cùng đại diện các đơn vị trực thuộc Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, các bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương và Petrovietnam. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Tham dự cuộc họp có ông Đặng Ngọc Điệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Lê Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam; lãnh đạo Petrovietnam cùng đại diện các đơn vị trực thuộc Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, các bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương và Petrovietnam. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Petrovietnam có mặt trên toàn bộ 6 lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm

Phát biểu tại cuộc họp, ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, Nghị quyết 36 xác định 6 lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm gồm: du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và khoáng sản biển; nuôi trồng, khai thác hải sản; công nghiệp ven biển; và năng lượng tái tạo, các ngành kinh tế biển mới. Đây là các trụ cột quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển.

Điểm đáng chú ý, Petrovietnam hiện diện ở cả 6 lĩnh vực này với mức độ tham gia khác nhau. Không chỉ giữ vai trò nòng cốt trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, Tập đoàn còn phát triển mạnh chuỗi giá trị khí - điện - đạm, dịch vụ kỹ thuật biển, đồng thời từng bước mở rộng sang các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi. Điều đó cho thấy, Petrovietnam đang chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên đơn thuần sang hệ sinh thái kinh tế biển toàn diện.

Tuy nhiên, chính phạm vi hoạt động rộng cũng làm bộc lộ những hạn chế về thể chế khi mỗi lĩnh vực chịu sự điều chỉnh của các khung pháp lý khác nhau, thiếu tính đồng bộ. Đây được xác định là một trong những “điểm nghẽn” lớn cản trở quá trình triển khai hiệu quả Nghị quyết 36.

Ông Nguyễn Duy Hưng cho rằng, Petrovietnam hiện diện ở cả 6 lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Ông Nguyễn Duy Hưng cho rằng, Petrovietnam hiện diện ở cả 6 lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Theo ông Nguyễn Duy Hưng, mục tiêu của buổi làm việc không chỉ là đánh giá kết quả đạt được, mà quan trọng hơn là nhận diện đầy đủ những tồn tại, vướng mắc, đặc biệt từ cơ chế, chính sách; đồng thời làm rõ dư địa phát triển còn chưa được khai thác. Trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, vai trò của Petrovietnam với tư cách doanh nghiệp trụ cột càng trở nên quan trọng, đòi hỏi phải có cơ chế đủ mạnh để phát huy hiệu quả.

Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Petrovietnam cho biết, giai đoạn 2018-2025, Tập đoàn tiếp tục khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế biển với nhiều kết quả nổi bật. Tổng sản lượng khai thác dầu khí đạt khoảng 190-200 triệu tấn quy dầu; tổng doanh thu đạt 3,5-3,8 triệu tỷ đồng; nộp ngân sách 600-650 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 9-10% tổng thu ngân sách nhà nước. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô hoạt động mà còn thể hiện khả năng duy trì ổn định sản xuất trong bối cảnh thị trường năng lượng biến động mạnh.

Ở chiều sâu, Tập đoàn duy trì hệ số bù trữ lượng ở mức 1,0-1,2 lần, từng bước nâng hệ số thu hồi thêm 2-5%, đồng thời phát huy hiệu quả chuỗi giá trị từ thượng nguồn đến hạ nguồn. Sản lượng khí đạt 9-10 tỷ m³ mỗi năm, sản lượng điện đạt 30-35 tỷ kWh, đóng góp khoảng 10-12% sản lượng điện quốc gia; các nhà máy lọc dầu đáp ứng 70-75% nhu cầu xăng dầu trong nước.

Đáng chú ý, Petrovietnam đang từng bước chuyển dịch theo hướng phát triển bền vững. Tập đoàn thúc đẩy các dự án điện gió ngoài khơi với tiềm năng hàng chục GW, phát triển điện khí LNG, đồng thời nghiên cứu công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon nhằm giảm phát thải.

Song song với đó, hoạt động dầu khí ngoài khơi vẫn được duy trì ổn định, góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển.

Ông Lê Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam, kiến nghị tập trung tháo gỡ 'nút thắt' thể chế để Petrovietnam phát huy vai trò trụ cột kinh tế biển. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Ông Lê Mạnh Cường, Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam, kiến nghị tập trung tháo gỡ “nút thắt” thể chế để Petrovietnam phát huy vai trò trụ cột kinh tế biển. Ảnh: Nguyễn Thủy.

 Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, Petrovietnam đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất - địa vật lý, giúp tiết giảm chi phí vận hành từ 10-15%. Những nỗ lực này cho thấy Tập đoàn đang chủ động thích ứng với xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, Petrovietnam cũng đối mặt với nhiều thách thức. Trữ lượng dầu khí suy giảm tự nhiên 10-15% mỗi năm, chi phí khai thác gia tăng, trong khi yêu cầu phát triển các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen xanh đòi hỏi nguồn lực lớn và cơ chế linh hoạt hơn.

Gỡ vướng thể chế để khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển

Từ thực tiễn đó, Tập đoàn kiến nghị tập trung tháo gỡ “nút thắt” thể chế. Cụ thể, cần hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí tại vùng nước sâu, xa bờ; xây dựng cơ chế riêng cho các lĩnh vực năng lượng mới như điện gió ngoài khơi và công nghệ CCS. Đồng thời, cần có các chính sách tài chính phù hợp như ưu đãi thuế, tín dụng xanh để thu hút đầu tư vào các dự án quy mô lớn.

Một số đơn vị thành viên cũng đề xuất mở rộng hoạt động sang cung cấp dịch vụ kỹ thuật, tham gia sâu hơn vào điện gió ngoài khơi và tận dụng hạ tầng hiện có. Tuy nhiên, để hiện thực hóa các định hướng này, yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế đủ linh hoạt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực và đổi mới sáng tạo.

Petrovietnam cũng kiến nghị xây dựng mô hình quản lý thống nhất trong lĩnh vực năng lượng, tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các thỏa thuận liên Chính phủ, đồng thời đề xuất thành lập Trung tâm Năng lượng Quốc gia và Trung tâm Kinh tế Sinh thái Quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả điều phối các hoạt động kinh tế biển.

Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ rà soát, hoàn thiện chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển gắn với quản lý chặt chẽ tài nguyên và bảo vệ môi trường. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ rà soát, hoàn thiện chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển gắn với quản lý chặt chẽ tài nguyên và bảo vệ môi trường. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Về phía cơ quan quản lý nhà nước, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính, giảm chồng chéo trong quản lý. Đồng thời, sớm ban hành quy định đối với các lĩnh vực còn thiếu, nhất là điều tra, khảo sát và khai thác khoáng sản biển.

Bộ cũng sẽ rà soát, hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế biển, thúc đẩy các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển gắn với quản lý chặt chẽ tài nguyên và bảo vệ môi trường. Cùng với đó là tăng cường phối hợp liên ngành, xây dựng cơ chế phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hiệu quả vào phát triển kinh tế biển.

Kết luận buổi làm việc, ông Nguyễn Duy Hưng đánh giá, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36, Petrovietnam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, triển khai nhiệm vụ đồng bộ và giữ vững vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế biển. Các chỉ tiêu tài chính giai đoạn từ năm 2018 đến nay duy trì ở mức tốt, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước và tăng trưởng chung của nền kinh tế, đồng thời góp phần quan trọng vào bảo đảm an ninh, quốc phòng.

Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi. Ảnh: ST.

Hoàn thiện thể chế, thúc đẩy các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi. Ảnh: ST.

Qua báo cáo và thảo luận, Ban Chỉ đạo đã có cái nhìn tổng thể về hoạt động của Tập đoàn cũng như vai trò trong 6 lĩnh vực kinh tế biển. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả thực hiện Nghị quyết, ông Nguyễn Duy Hưng đề nghị Petrovietnam tiếp tục hoàn thiện báo cáo, bám sát đề cương và tinh thần Nghị quyết 36, đồng thời cập nhật việc triển khai các nhiệm vụ được giao theo Nghị quyết 26 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36, làm rõ từng nội dung cụ thể Tập đoàn đảm nhận và kết quả thực hiện.

Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh, việc thực hiện Nghị quyết phải được lượng hóa bằng các chỉ tiêu cụ thể, có kế hoạch triển khai rõ ràng, gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá. Báo cáo cần nêu rõ những khó khăn, hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện, đặc biệt là các bất cập về thể chế, chính sách, từ đó đề xuất giải pháp tháo gỡ hiệu quả.

 

Nguyễn Thủy/Báo NNMT

Ý kiến

Quỳnh Phú tổng lực ra quân làm sạch môi trường biển

Quỳnh Phú tổng lực ra quân làm sạch môi trường biển

Hơn 500 người được Quỳnh Phú huy động tham gia tổng vệ sinh môi trường biển, chuẩn bị điều kiện tốt nhất để đón khách mùa du lịch.
Hội thảo

Hội thảo "Đặc khu Cồn Cỏ - Cơ hội, tiềm năng phát triển du lịch gắn với hoạt động bảo tồn biển, sinh kế bền vững, OCOP miền biển”

Ngày 03/4/2026, tại đặc khu Cồn Cỏ, Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với UBND Đặc khu Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội thảo “Đặc khu Cồn Cỏ - Cơ hội, tiềm năng phát triển du lịch gắn với hoạt động bảo tồn biển, sinh kế bền vững, OCOP miền biển”. Hội thảo quy tụ hơn 100 đại biểu, gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan Trung ương, địa phương, các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp du lịch và cơ quan báo chí.

Tự chủ công nghệ AUV nghiên cứu biển

Khoa học-công nghệ phát triển giúp nhiều quốc gia biển trên thế giới đẩy mạnh nghiên cứu về tiềm năng tài nguyên biển trong vùng lãnh hải của mình, từ đó có những quyết sách chính xác và hiệu quả. Tầm quan trọng trong nghiên cứu, bảo tồn và khai thác tài nguyên biển đặt ra yêu cầu tự chủ và nội địa hóa các phương tiện nghiên cứu, phù hợp Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.