Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” diễn ra tại phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
Chiều 05/6, tại phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An, Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức.
Đây là một trong chuỗi hoạt động hưởng ứng hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (08/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026.
Hội thảo có sự tham dự của lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đại diện các bộ, ngành Trung ương, cùng lãnh đạo 21 tỉnh, thành phố có biển, các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng doanh nghiệp. Hội thảo diễn ra với hai phiên chính.
Quang cảnh Hội thảo “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”Tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển. Tuy nhiên, kết quả hiện nay vẫn chưa tương xứng với lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu, với hơn 3.260 km bờ biển, diện tích 1 triệu km2 cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, song đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế còn hạn chế.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp khẳng định, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản biển, khai thác tài nguyên biển sâu và phát triển du lịch biển.Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp đã đưa ra một số điểm nghẽn, bất cập, sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng các quy định liên quan giữa nhiều bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương.
Theo Thứ trưởng, những bất cập này khiến quá trình triển khai các dự án kinh tế biển gặp khó khăn, phát sinh thủ tục và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Lãnh đạo Bộ thừa nhận, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản biển, khai thác tài nguyên biển sâu và phát triển du lịch biển.
Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường mong muốn quá trình sửa luật không chỉ dừng ở hoàn thiện văn bản pháp lý mà phải giải quyết được các vướng mắc thực tiễn, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững trong thời gian tới.
Giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong tình hình mới
Với bài tham luận tại Hội thảo, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành - Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, ổng Vũ Mạnh Hùng đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh mới.
Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành Vũ Mạnh Hùng với bài tham luận “Một số định hướng lớn của Đảng về phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển trong tình hình mới” tại Hội thảoThữ nhất, cần đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển. Điều này bao gồm tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội; đồng thời chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển tổng hợp, dựa trên hệ sinh thái. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh, rõ trách nhiệm và hiệu quả thực thi.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính đột phá. Trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo, khơi thông nguồn lực, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đồng thời, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm “tốt trong thực tiễn”.
Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển. Cần đa dạng hóa nguồn vốn, thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công - tư và hình thành các tập đoàn kinh tế biển lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt các ngành mũi nhọn.
Thứ tư, đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Ưu tiên công nghệ biển hiện đại, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, viễn thám trong quản lý. Đồng thời, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về kinh tế biển.
Thứ năm, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, giá trị gia tăng cao. Tập trung vào các lĩnh vực chủ lực như du lịch biển chất lượng cao, hàng hải - logistics, dầu khí, thủy sản công nghệ cao và năng lượng tái tạo ngoài khơi. Đồng thời, thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới như hydrogen, dược liệu biển, kinh tế sinh học biển.
Thứ sáu, phát triển đồng bộ hạ tầng và không gian kinh tế biển. Đẩy mạnh hệ thống cảng biển, logistics, giao thông kết nối liên vùng; hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, khu công nghiệp sinh thái, đô thị biển thông minh và các khu kinh tế ven biển hiện đại.
Thứ bảy, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và nâng cao đời sống người dân biển. Kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời bảo đảm sinh kế bền vững, nâng cao chất lượng sống cho cư dân ven biển và hải đảo.
Thứ tám, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, giữ môi trường hòa bình; đồng thời chủ động hội nhập, thu hút nguồn lực, công nghệ và tham gia quản trị biển toàn cầu.
Thứ chín, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá thực thi. Xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả phát triển kinh tế biển; siết chặt giám sát các lĩnh vực nhạy cảm, bảo đảm kỷ cương, minh bạch và hiệu quả trong triển khai.
Quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản - cơ quan soạn thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cho rằng, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.
Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo luật là mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản tham luận tại Hội thảoCùng với mở rộng phạm vi điều chỉnh, dự thảo bổ sung một số khái niệm mới như tài nguyên biển vị thế, giao khu vực biển, cho thuê khu vực biển, đăng ký sử dụng khu vực biển, kinh tế biển mới, kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp... Đây là các khái niệm cần thiết để Luật có đủ công cụ pháp lý điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong quản lý, sử dụng không gian biển và phát triển kinh tế biển bền vững.
Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản cho biết, dự thảo còn bổ sung cơ chế quản lý, phân bổ và điều phối không gian biển theo hướng phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia. Cơ chế xử lý chồng chéo trong sử dụng biển được xem là nội dung nền tảng, bởi cùng một khu vực hiện có thể phát sinh nhiều nhu cầu như điện gió ngoài khơi, giao thông hàng hải, nuôi biển, du lịch hay bảo tồn sinh thái.
Bên cạnh đó, dự kiến bổ sung quy định về phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển, nhằm tránh khoảng trống quản lý, hạn chế chồng chéo thẩm quyền, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa trung ương và địa phương, nhất là đối với vùng biển ven bờ, vùng biển liên tỉnh và vùng biển ngoài ranh giới quản lý hành chính trên biển của địa phương.
Nhóm nội dung này tạo nền tảng để tổ chức thực hiện hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia, phân bổ hợp lý nguồn lực không gian biển, xử lý xung đột trong sử dụng biển và tạo môi trường pháp lý ổn định cho các dự án đầu tư trên biển.
Một điểm thay đổi nữa là chuyển từ quản lý biển chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục hành chính sang quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu, công nghệ số, quan trắc, giám sát và cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng.
Những chuyển đổi này cho thấy nội dung dự kiến đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật không chỉ nhằm khắc phục bất cập của Luật năm 2015, mà quan trọng hơn là mở đường cho một giai đoạn phát triển mới của kinh tế biển; tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại, minh bạch để huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực, phát huy tiềm năng, lợi thế của biển, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 36-NQ/TW và các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới, Cục trưởng Nguyễn Quốc Toản nhấn mạnh.
Trong phiên thứ nhất, các đại biểu đã tập trung thảo luận nhữn định hướng lớn về phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong giai đoạn mới. Nội dung nổi bật gồm định hướng của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế biển, các điểm mới trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, cùng góc nhìn từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Các tham luận nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp, liên ngành và liên vùng; coi biển là không gian phát triển thống nhất giữa đất liền, biển và hải đảo, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tại phiên thảo luận với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp. Các đại biểu tập trung thảo luận về pháp lý và cơ chế chính sách giao mặt nước biển, phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, cảng biển, dịch vụ hàng hải, công nghiệp sinh học biển, dữ liệu biển và các ngành kinh tế biển mới; đề xuất hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp.
Phiên tọa đàm “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững”Trong phiên tọa đàm, do Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản điều phối, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế biển. Các khách mời gồm: Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội; ông Cao Văn Cường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá; ông Phạm Ngọc Sơn, nguyên Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam; ông Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thuỷ sản Việt Nam và ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam.